Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử 12 thông qua việc rèn luyện học sinh làm bài tập
- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường trung học nói riêng là một vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác dạy học mà ngay cả các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương.
- Việc chống lối dạy học thụ động, thầy đọc, trò chép đã được đặt ra từ lâu. Ngay từ năm 1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyên người học: “ Phải tự nguyện tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ … phải hoàn thành cho được. Do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kì khó khăn nào trong việc học tập”. Tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục (1963) Bác Hồ lại căn dặn: “Về giảng dạy tránh lối dạy nhồi sọ” … “ Về học tập tránh lối học vẹt”. “Các cháu không nên học gạo, không nên học vẹt … học phải suy nghĩ, phải có liên hệ với thực tiễn, phải có thínghiệm và thực hành. Học và hành phải kếthợp với nhau”.
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử 12 thông qua việc rèn luyện học sinh làm bài tập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử 12 thông qua việc rèn luyện học sinh làm bài tập
hu kiến thức mới. Đổi mới phương pháp dạy học là tạo ra quá trình chuyển từ việc dạy học cũ – dựa vào trí nhớ, học thuộc kiến thức có sẵn, sang việc dạy học mới – phát huy tính tích cực nhận thức độc lập của học sinh. Vì vậy giáo viên phải sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong quá trình truyền thụ kiến thức mới. Ví dụ: khi dạy Mục 3 của phần III bài 16 (Lịch sử 12) Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Bài tập: “Tại sao khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng ta quyết định khởi nghĩa giành chính quyến trong toàn quốc?”. Triển khai: Giáo viên : gợi ý cho học sinh nhớ lại chủ trương khởi nghĩa vũ trang đề ra trong hội nghị Trung ương 8(5/1941). Chủ trương này gồm ba điểm, trong đó nhấn mạnh: Khởi nghĩa vũ trang muốn giành thắng lợi phải có đầy đủ những điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi – nghĩa là phải có thời cơ. Giáo viên ra câu hỏi: Vậy “thời cơ cách mạng là gì?” Học sinh trả lời: Để hiểu vấn đề này, học sinh lần lượt xác định các yếu tố thời cơ cách mạng ( kẻ thù không thể thống trị như cũ được nữa, quần chúng nhân dân đã đứng về phía cách mạng, Đảng của giai cấp lãnh đạo đã chuẩn bị sẵn sàng). Giáo viên tiếp tục hỏi: “ Các yếu tố này đã xuất hiện đầy đủ ở nước ta lúc bấy giờ chưa?”. Học sinh trả lời: đã xuất hiện; Nhật đã đầu hàng, quần chúng nhân dân đã sục sôi khí thế, Đảng Cộng sản Đông Dương đã sẵn sàng. Cuối cùng giáo viên kết luận: “ Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, ở nước ta đã xuất hiện đầy đủ ba yếu tố trên – nghĩa là thời cơ tổng khởi nghĩa tháng Tám đã chín muồi. Do đó Đảng ta quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Đây là quyết định đúng đắn, kịp thời, sáng suốt. Nhờ vậy Tổng khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong cả nước. Tác dụng bài tập: Cách đặt và hướng dẫn giải quyết bài tập như vậy, thu hút sự chý ý của học sinh, vì các em vừa được cũng cố kiến thức cũ, vừa chuẩn bị chiếm lĩnh kiến thức mới, nó kích thích tư duy, hình thành phương pháp nhận thức – phương pháp giải quyết bài tập. Tổ chức hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử trong tự học ở nhà: Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử cần chú ý đến vấn đề bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học của học sinh. Bởi vì, bài giảng ở trên lớp chỉ là bước mở đầu cho công việc tiếp tục tự học ở nhà để hiểu vấn đề. Biện pháp này được thực hiện bằng nhiều cách sau: Một là, giải quyết các câu hỏi trong sách giáo khoa. Hai là, hướng dẫn học sinh làm bài tập do giáo viên đưa ra. Ba là, hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà đạt hiệu quả giáo viên cần chú ý: Đưa ra nhiều loại bài tập đảm bảo tính đa dạng, phong phú, phù hợp với trình độ từng đối tượng học sinh. Bài tập lịch sử giúp học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa các sự kiện lịch sử cơ bản trong từng giai đoạn thời kỳ nhất định. Ví dụ 1: Sau khi học xong chương II Việt Nam trong những năm 1930- 1945, giáo viên cho học sinh làm bài tập: Với các sự kiện quan trọng sau em hãy điền mốc thời gian thích hợp. Thực hiện: giáo viên cho sự kiện, sau khi học sinh điền mốc thời gian được kết quả như sau: Thời gian: Các sự kiện quan trọng nhất. 03-02-1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời. 12-09-1930 Xô Viết Nghệ Tĩnh 03-1935 Đại hội lần thứ nhất của Đảng 1936-1939 Cuộc vận động dân chủ 28-01– 1941 Nguyễn ÁI Quốc về nước lãnh đạo cách mạng 22 – 12 – 1944 Đội VNTT giải phóng quân ra đời 9-03-1945 Nhật đảo chính Pháp 8 – 1945 Cách mạng tháng Tám thành công 2 – 9 – 1945 Nước VNDCCH ra đời Ví dụ 2: Con đường cách mạng vô sản mà Nguyễn Ai Quốc lựa chọn đã đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Với những hình ảnh sau hãy điền các mốc lịch sử tương ứng. Kh ng chi n ch◻ng Ph p th◻ng l i. Gi i ph◻ng miủn Nam th◻ng nhÊt ổt n- c. Đắi m i ổt n- c. C ch m◻ng th ng t m thµnh c ng. Bài tập giúp học sinh làm quen với việc đánh giá, bình luận về các sự kiện, nhân vật lịch sử. Mỗi khi nhận xét về một sự kiện hay một nhân vật, học sinh phải dựa vào hoàn cảnh lịch sử, phân tích ý nghĩa, sự tác động của sự kiện, vai trò của nhân vật lịch sử Trên cơ sở đó tư duy lịch sử của học sinh được phát triển, ví dụ sau khi học về giai đoạn lịch sử Hoạt động của Nguyễn Ai Quốc ở nước ngoài trong những năm 1919-1925. Giáo viên nêu bài tập “Nguyễn Ai Quốc đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng vô sản ở Việt Nam như thế nào?”. Học sinh buộc phải nắm được các hoạt động của Người và chính các hoạt động tích cực đó đã chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng vô sản ở Việt Nam Sử dụng bài tập lịch sử trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong mỗi lớp học, thường có các đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu. Do đó để tất cả học sinh cùng làm việc, giáo viên nên cho ra bốn dạng bài tập nhận thức như sau để đánh giá kết quả học tập của học sinh. Bài tập mô tả, tái hiện lịch sử: Dạng này giành cho học sinh yếu hoặc trung bình vì chỉ yêu cầu học sinh trình bày lại sự kiện một cách trung thực. Ví dụ: Nêu sự phát triển kinh tế Mỹ trong giai đoạn 1945 – 1973.’ Học sinh phải nêu được: Sau CTTG II, nền k/tế Mĩ phát triển mạnh mẽ: 1948 Sản lượng CN Mĩ chiếm 56,5% 1949 sản lượng Nông nghiệp bằng hai lần của Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản cộng lại. Có hơn 50% tàu bè đi lại trên biển. Chiếm 3/4 dự trữ vng của thế giới. Mĩ trở thnh trung tm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới. Bài tập vận dụng: Loại bài tập này yêu cầu học sinh vận dụng những tri thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề mới đặt ra. Ví dụ: Vì sao việc thành lập Đảng Cộng Sản là một yêu cầu cấp thiết của Cách Mạng Việt Nam. Loại bài tập này học sinh trung bình trở lên làm được. Bài tập phân tích bản chất sự kiện. Loại bài tập này yêu cầu tương đối cao năng lực trí tuệ của học sinh do đó phù hợp với những học sinh khá. Ví dụ: Chứng minh sự phát triển “ thần kì” của kinh tế Nhật từ 1952 – 1973? Những nhân tố làm nên sự “thần kì” đó? Việt Nam có thể học tập được gì của nền kinh tế Nhật. Học sinh giải bài tập yêu cầu đạt được: Chứng minh sự phát triển “ thần kì” Hoàn cảnh: - Thất bại trong chiến tranh, thiệt hại hết sức nặng nề ( 3 triệu người chết, 40% đô thị, 34% máy móc, 80% tàu bè bị ph hủy...) -Thiếu nguyên liệu, hàng hóa, lương thực, thực phẩm. Đói rét đe dọa toàn nước Nhật. Bị quân đội Mỹ chiếm đóng. Công cuộc khôi phục Nhật Bản. Chính trị: -Bãi bỏ chủ nghĩa quân phiệt, xét xử tội phạm chiến tranh. 1947 ban hành hiến pháp mới quy định Nhật là nước quân chủ lập hiến, nhưng thực chất là theo chế độ dân chủ đại nghị tư sản.(Chính phủ do thủ tướng đứng đầu). Cam kết từ bỏ chiến tranh, duy trì hòa bình. Về kinh tế: Thực hiện 3 cuộc cải cách lớn: -Thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, giải tán các “Daibátxư“ -Cải cách ruộng đất. -Dân chủ hóa lao động. Kết quả: Kinh tế khôi phục, đạt mức trước chiến tranh Biểu hiện phát triển. Từ 1952 – 1960, kinh tế có bước phát triển mạnh. Từ 1960 – 1973, kinh tế bước vào giai đoạn phát triển “Thần kì” ® đầu năm 70 trở thành 1 trong 3 trung tâm k/tế - tài chính thế giới (Mĩ, Tây Âu NB). Coi trọng phát triển giáo dục khoa học-kĩ thuật, mua bằng phát minh sáng chế và chuyển giao công nghệ, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất phục vụ công nghiệp dân dụng.( Sản phẩm nổi tiếng là ti vi , tủ lạnh , ô tô) Nhân tố làm nên sự phát triển: Chủ quan: Người Nhật có truyền thống lao động, sáng tạo, cần kiệm, tay nghề cao. Vai trò lãnh đạo có hiệu quả của nhà nước. Chế độ làm việc suốt đời, lương theo thâm niên Áp dụng hiệu quả thành tựu của khoa học kỹ thuật. Chi phí cho quốc phòng ít, nên có điều kiện tập trung vốn cho kinh tế. Khách quan: Nhật Bản biết tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển (viện trợ của Mỹ, nhận được nhiều đơn đặt hàng của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Triều Tiên.) Bài học cho Việt Nam: Phát huy tinh thần lao động sáng tạo, cần kiệm của nhân dân. Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài Tăng cường công tác điều tiết, quản lý, tổ chức nền kinh tế. Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Bài tập nghiên cứu, phát hiện. Đây là những bài tập giành cho học sinh khá giỏi. Trên cơ sở gợi ý của giáo viên, học sinh có thể tập nghiên cứu một vấn đề lịch sử cụ thể. Bên cạnh việc bài tập phù hợp với từng đối tượng, giáo viên còn phải chú ý xây dựng bài tập như: bài tập phải hướng về vấn đề cơ bản của bài học nhằm giúp học sinh nắm chắc và hiểu sâu những kiến thức quan trọng, chủ yếu. Muốn vậy, giáo viên nghiên cứu kỹ sách giáo khoa để xác định những kiến thức cơ bản cần được nhận thức sâu sắc. Bài tập phải đảm bảo tính hệ thống thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử và bài tập. Bài tập trước tạo điều kiện thực hiện bài tập sau. Bài tập sau có ý nghĩa củng cố và khắc sâu bài tập trước. Bài tập phải đảm bảo tính chính xác không đánh đố học sinh, kích thích được tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh. Ngoài ra giáo viên còn phải hình dung các loại và số lượng bài tập trong một tiết dạy sao cho vừa phong phú, vừa đảm bảo số lượng vừa phải mà học sinh có thể giải được. Đồng thời giáo viên phải xây dựng đáp án, chỉ dẫn tài liệu cần thiết cho học sinh để tránh học sinh giải quá dài dòng hay quá sơ lược. Sử dụng bài tập lịch sử trong hoạt động ngoại khóa: Đó là các dạng bài tập về sưu tầm tài liệu để viết một đề tài lịch sử địa phương. Bài tập thu hoạch sau khi tham quan một di tích lịch sử, nhà truyền thống Bài tập dưới dạng trò chơi lịch sử như đố vui, ô chữ. Bài tập thảo luận sau khi xem xong phim, băng video, đĩa CD 3: Biện Pháp kiểm tra đánh giá. Bài tập có tầm quan trọng trong việc kích thích tư duy của học sinh. Vậy nó được làm ở đâu? Làm vào lúc nào? Theo tôi đối với mỗi học sinh ngoài vở ghi những ý chính của bài học, còn phải có một quyển vở khác để làm những bài tập mà giáo viên yêu cầu làm ở lớp, ở nhà – “ Vở bài tập”. Bài tập có thể được tiến hành ở tất cả các khâu trong tiết học. Từ khi kiểm tra bài cũ, giảng bài mới hoặc cũng cố bài mỗi một khâu giáo viên sẽ phải chọn lựa những bài tập cho phù hợp nhất. Có nhiều hình thức khác nhau để rèn luyện học sinh làm bài tập trong dạy học lịch sử. Vấn đề đặt ra là cho dù bằng hình thức nào đi chăng nữa nhưng việc thường xuyên làm bài tập sẽ giúp học sinh học tốt hơn, nắm vững kiến thức hơn. Đối với các bộ môn như Toán, Lý Hóa việc làm bài tập là điều hiễn nhiên. Nhưng đây lại là vấn đề thường bị xem nhẹ trong bộ môn lịch sử. Vì thế khi áp dụng phương pháp này để đạt hiệu quả cao người giáo viên phải xây dựng cho học sinh làm vở bài tập lịch sử. Giáo viên thường xuyên kiểm tra vở bài tập của các em, đánh giá, nhận xét, cho điểm nhằm khuyến khích và động viên kịp thời. ỨNG DỤNG THỰC TIỄN: Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT ngoài việc sử dụng các phương pháp đặc trưng của bộ môn lịch sử như mô tả, tường thuật, diễn giảng, thảo luận nhóm, xem tranh ảnh bản đồ Ở mỗi tiết dạy tôi đều tiến hành lồng ghép vào những bài tập kiểu kích thích tính tò mò nhận thức ở học sinh, và yêu cầu học sinh làm ở lớp cũng như về nhà và tôi nhận thấy có kết quả rõ rệt, học sinh bám sát sách giáo khoa. Hiểu rõ hơn những vấn đề đang được học một cách chủ động, chắc chắn. Nắm được các kiến thức cơ bản nhất. Học sinh sẽ nhớ lâu hơn và cảm thấy thích học hơn bộ mộn lịch sử, giảm tải được áp lực thi cử cho học sinh – khi cứ phải lo vào phòng thi sẽ quên. Góp phần giáo dục tư tưởng tình cảm, nhân cách học sinh. Gây hứng thú học tập, góp phần phát triển tư duy cho học sinh, chỉ cần nắm được kiến thức cơ bản là học sinh có thể yên tâm trong thi cử. Góp phần rèn luyện kĩ năng bộ môn. Một hoạt động trên lớp mà giáo viên vừa truyền đạt được kiến thức mới, vừa giúp học sinh giải được bài tập. KẾT LUẬN: Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo là khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh. Trong dạy học lịch sử ở trường, bài tập nhận thức có vai trò rất lớn đối với việc phát triển tính tích cực của học sinh, thúc đẩy tư duy học sinh làm việc. Do đó giáo viên cần sử dụng quá trình lên lớp, giúp học sinh nắm chắc những vấn đề cơ bản của lịch sử, nhận thức được mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử cơ bản, thấy được sự phát triển đi lên của lịch sử. Từ đó rút ra được quy luật, bài học kinh nghiệm lịch sử. KẾT QUẢ THỰC HIỆN: Kết quả: TRẮC NGHIỆM KIỂM CHỨNG ĐỀ TÀI Qua việc áp dụng phương pháp rèn luyện học sinh làm bài tập trong dạy học lịch sử lớp 12, tôi thấy: Hầu hết học sinh hiểu, nắm chắc, khắc sâu được kiến thức về hoàn cảnh lịch sử, nội dung sự kiện. Học sinh hứng thú trong cách tìm hiểu về các giai đoạn lịch sử và bản chất lịch sử. Tránh được sự thụ động đọc chép trong bài giảng của giáo viên. Áp dụng làm các dạng bài tập lịch sử có hiệu quả, đặc biệt là với những bài có tính phát hiện và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Năm học 2010 - 2011: Lớp HS học hứng th HS hiểu bi 12A5 37/40 HS = 92.5 % 40/40 HS = 100 % 12A6 35/39 HS = 89.7 % 37/39 HS = 94.9 % 12A7 40/42 HS = 95.2 % 41/42 HS = 97.6 % Bài học kinh nghiệm: Việc hoàn thành hệ thống bài tập đòi hỏi ở học sinh thái độ tự giác cao, kiên trì, chịu khó. Do đó, những bài tập được tổ chức đúng sẽ tập cho học sinh làm quen việc tự lập, giáo dục ý thức, trách nhiệm, nắm vững tri thức. Nó góp phần rất lớn vào sự phát triển ý chí của học sinh. Đề xuất kiến nghị Tăng tiết ngay từ đầu năm cho khối 12 để tránh việc nhồi nhét kiến thức. Đây không chỉ là môn thi tốt nghiệp mà còn là môn thi đại học của các em theo nghành khoa học xã hội. Cải thiện nâng cấp, đầu tư cơ sở vật chất để tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh được dạy và học trong ngôi trường tốt hơn đáp ứng với sự phát triển của x hội. Đầu tư thiết bị, đồ dùng dạy học lịch sử như tranh ảnh, bản đồ NHỮNG BI HỌC CĨ THỂ P DỤNG. Với phương pháp rèn luyện học sinh làm bài tập này có thể áp dụng cho tất cả các bài trong chương trình lịch sử 12. Lời cảm ơn. Với điều kiện thời gian ngắn ngủi, trình độ bản thân còn ít kinh nghiệm, chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế. Với tâm huyết và tấm lòng của mình tôi muốn đóng góp cho công việc dạy học một đề tài nhỏ để nâng cao hiệu quả dạy học. Rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô: Ban giám hiệu, tổ bộ môn và hội đồng giám khảo. oooOooo TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách giáo khoa lịch sử 12 – nhà xuất bản giáo dục. Sách giáo viên lịch sử 12 - nhà xuất bản giáo dục. Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận lịch sử 12 – Trịnh Đình Tùng chủ biên – NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh. Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử – Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường đồng chủ biên – nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội. – 2002.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_phuong_phap_day_hoc_lich_su_12.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử 12 thông qua việc rèn luyện học sinh làm b.pdf

