Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh lớp 12A2 và 12A5 trường THPT Quan Sơn chủ động trong giờ học Lịch sử bằng việc sử dụng các sơ đồ để dạy học
Trong những năm vừa qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Lịch sử nói riêng được đông đảo mọi người quan tâm. Trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đồng thời Bộ giáo dục và Đào tạo đã chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện quá trình dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm. Đưa phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong các cấp học, các môn học, thay sách giáo khoa cho phù hợp và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội cũng như việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông theo phương pháp mới còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực lớn của thầy và trò. Nhằm thực hiện mục tiêu dạy học theo quan điểm đổi mới, phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động cho học sinh (HS) cần đạt các kĩ năng cần thiết, đặc biệt là định hướng cho HS tự khai thác, nghiên cứu tư liệu. Thực hiện phương châm đổi mới thay sách: "nghe là quên, nhìn là nhớ, thực hành là hiểu”.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh lớp 12A2 và 12A5 trường THPT Quan Sơn chủ động trong giờ học Lịch sử bằng việc sử dụng các sơ đồ để dạy học
hành lập một đảng vô sản để lãnh đạo quần chúng. Nhưng chỉ có một số hội viên của Hội VNCMTN nhận thức được yêu cầu này. Từ đó làm cho Hội VCMTN bị phân hóa thành hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng. Ảnh hưởng ngày càng lớn của Hội VNCMTN cũng làm cho đảng Tân Việt bị phân hóa. Một bộ phận đảng viên tiên tiến của đảng Tân Việt cũng đã thành lập ra tổ chức Đông Dương cộng sản liên đoàn. Với sơ đồ này HS sẽ dễ dàng nắm được sự ra đời của ba tổ chức cộng sản như thế nào, và HS cũng thấy được việc trong một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động như vậy thì đặt ra yêu cầu gì cho cách mạng Việt Nam. Bước 2: GV hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ để thể hiện nội dung của mục 1 và mục 2. Từ đó học sinh sẽ dễ nắm kiến thức về quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như nội dung và ý nghĩa của Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Sau khi HS điền được thông tin vào sơ đồ, GV cho HS rút ra nhận xét và ý nghĩa của Cương lĩnh. Ví dụ 3: Sử dụng phụ lục 3 để dạy Mục: Hội nghị BCHTW Đảng CS Đông Dương tháng 11 năm 1939, ( Bài 16, mục II, trang 104) Giáo viên hướng dẫn học sinh thể hiện những kiến thức cơ bản trên khung sơ đồ. Giáo viên đặt câu hỏi: Điểm khác cơ bản của Hội nghị này với Hội nghị BCHTW Đảng tháng 7 năm 1936?. GV giải thích: Hội nghị tháng 7/1936, đề ra mục tiêu đấu tranh trước mắt là đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình (tạm gác độc lập dân tộc). Còn đến Hội nghị này, mục tiêu đấu tranh là đòi độc lập dân tộc (tạm gác nhiệm vụ dân chủ) GV hướng dẫn HS rút ra ý nghĩa của hội nghị. Ví dụ 4: Sử dụng phụ lục 4 để dạy Mục 3: Hội nghị BCHTW Đảng CS Đông Dương tháng 5 năm 1941, (Bài 16, mục II, trang 108, 109) GV sử dụng sơ đồ này để cụ thể hóa nội dung của Hội nghị, HS sẽ thấy dễ hiểu và nhanh chóng nắm được hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị. Qua hội nghị này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được tầm quan trọng của Hội nghị: Đây là hội nghị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì, những tư tưởng của Người đã bắt đầu được thể hiện. Đó là: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc và vấn đề dân tộc. Hội nghị khẳng đinh: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn phải chịu kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Vấn đề dân tộc được thể hiện: Thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh (Việt Minh) thay cho Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Ví dụ 5: Sử dụng phụ lục 5, 6, 7 để dạy Bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946” Đây là bài có nhiều nội dung, vì vậy việc sử dụng sơ đồ là rất cần thiết. Giáo viên hướng dẫn học sinh tập trung vào các phần trọng tâm để phân tích. Đây là khoảng thời gian nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ gặp vô vàn khó khăn và thử thách. Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy cơ mất còn. Đây cũng là giai đoạn thể hiện bản lĩnh chính trị, tài ngoại giao của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để giúp HS nắm được tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám với những thuận lợi và khó khăn với rất nhiều kiến thức thì việc sử dụng sơ đồ sẽ giúp HS hệ thống được một cách nhanh nhất những nội dung cần nắm. Trên cơ sở những khó khăn của nước ta sau cách mạng, HS sẽ rút ra được nước VNDCCH non trẻ bị đặt trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước những khó khăn của nước VNDCCH non trẻ, Đảng và chính phủ đã đưa ra những biện pháp kịp thời, hiệu quả để oối phó với những khó khăn về mặt đối nội, đối ngoại. GV sử dụng phụ lục 7 để giúp HS nắm được hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Trong đó phần nội dung được đánh số ô 1, 2, 3 và ô có đường kẻ đậm (ô số 1) thể hiện nội dung quan trọng nhất: Mặc dù ta không yêu cầu được Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam, nhưng chúng ta đã buộc chúng phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. 2. Sử dụng sơ đồ để củng cố kiến thức bài học Sử dụng sơ đồ để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất cần thiết và có hiệu quả đối với mỗi bài học. Giáo viên sử dụng sơ để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm. Học sinh sử dụng sơ đồ để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp. Sử dụng sơ đồ để phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau mỗi bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ. Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học. Ví dụ 1: Khi dạy bài 14, Phong trào cách mạng 1930-1935. Bài này theo phân phối chương trình sẽ học trong hai tiết nên khi học xong tiết hai, GV có thể củng cố bài học bằng một sơ đồ như sau: PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1935 Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh Việt Nam trongnhững năm 1929-1933 Xô viết Nghệ Tĩnh Phong trào cách mạng 1930-1931 Kinh tế Xã hội Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm Với sơ đồ này GV đã nhanh chóng hệ thống lại kiến thức trọng tâm của bài học mà HS sẽ rất dễ ghi nhớ. Đặc biệt phần “Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ tĩnh, GV vẽ đường viền đậm để chú ý với HS đây là trọng tâm bài học cần nắm vững. Vì vậy HS sẽ rất dễ hiểu và có thể nắm được bài học ngay trên lớp. Ví dụ 1: Khi dạy bài 21, Phần IV, Mục 1: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960). Đây là một bài học khá dài với nhiều nội dung sự kiện khó nhớ, giáo viên có thể kết thúc bài học bằng cách hệ thống hóa bài học bằng sơ đồ sau : ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG LẦN THỨ BA (9/1960) NHIỆM VỤ CỦA MIỀN NAM Hoàn thành CMDTDCND NHIỆM VỤ CỦA MIỀN BẮC Tiến hành Cách mạng XHCN THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MĨ Khi sử dụng sơ đồ này để củng cố bài học, học sinh sẽ nắm được toàn bộ nội dung bài học dễ dàng. Nội dung cơ bản của bài là Miền Bắc và Miền Nam đều thực hiện những nhiệm vụ riêng của mình do Đại hội Đảng toàn quốc đề ra. Ví dụ 3: Khi dạy bài 23, Phần III, mục 2: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Giáo viên có thể củng cố kết thúc bài học bằng sơ đồ sau : TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN ( 10/3->24/3/75) CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẴNG (21/3->29/3/75) CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH ( 26/4->30/4/75) Khi sử dụng sơ đồ này để kết thúc bài học giáo viên có thể giúp học sinh nhớ và hiểu toàn bộ kiến thức cơ bản của bài học là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 gồm có 3 chiến dịch lớn và thời gian diễn ra của mỗi chiến dịch. Sơ đồ này là một hình ảnh trực quan giúp học sinh hiểu và nhớ bài lâu hơn. 3. Sử dụng sơ đồ để kiểm tra kiến thức cũ Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánhđể trả lời câu hỏi. Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh. Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng sơ đồ vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm Ví dụ: Trước khi học bài 22 (Nhân đân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược...), GV yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện sơ đồ Những chiến thắng của nhân dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. Chiến thắng của nhân dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. (3) (1) (2) Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản, không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền được thông tin hoặc điền không chính xác. Sau khi đã hoàn thiện sơ đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về những chiến thắng của nhân dân miền Nam hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm. Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên nên căn cứ vào đó để đánh giá và nhận xét. IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm Mục đích của đề tài là phát huy tinh thần tự chủ động sang tạo của học sinh khi học lịch sử. Đề tài nhằm khắc phục tình trạng “thầy giảng, trò nghe”, “thầy đọc, trò chép”. Kiến thức đã có trong sách giáo khoa, điều quan trọng đề tài khai thác một khía cạnh mới, một con đường để đưa các em tiếp cận một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng chán học, ngại học lịch sử như hiện nay. Từ cách làm trên tôi thấy rằng mình đã thành công bước đầu, phần nào đã khắc phục được sự uể oải, nhàm chán trong giờ học Lịch sử đối với học sinh và ngay cả bản thân giáo viên. Khi vận dụng sơ đồ trong một số giờ dạy, bản thân cảm thấy giờ dạy trôi đi rất thoải mái, rất nhẹ nhàng và thực hiện giờ dạy bảo đảm sư tương tác giữa cô và trò. Phát huy được tính tự chủ trong cách tiệp nhận và khai thác bài học, tạo sự lôi cuốn trong học sinh, các em rất hào hứng, tập trung, tinh thần xây dựng bài cao. Học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bài học, ghi nhớ sự kiện một cách nhanh chóng và logic. Qua kiến thức được trình bày, giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy, so sánh, tổng hợp, đánh giá vấn đề. Học sinh đã tránh được thói ỷ lại và phần nào đã khẳng định được cái tôi trong quá trình học tập. Kết quả thực tế sau khi áp dụng đề tài vào giảng dạy Lớp Sỹ số Giỏi Tỷ lệ % Khá Tỷ lệ % TB Tỷ lệ % Yếu Tỷ lệ % 12A2 37 4 10,8 25 67,5 8 21.7 0 0 12A5 36 2 5.5 23 63.9 11 30.6 0 0 C. KẾT LUẬN Theo kinh nghiệm của bản thân và đánh giá của các động nghiệp, nhất là những giáo viên tham gia dạy khối C thì đây là một đề tài có ý nghĩa thiết thực. Nó giúp giáo viên chủ động trong giờ dạy và giúp học sinh chủ động trọng giờ học. Đề tài này có ý nghĩa góp phần tìm cách đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Để phát triển tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh. Thông qua các sơ đồ kết hợp các câu hỏi tình huống có vấn đề, bản thân đã phát hiện được nhiều học sinh có năng lực tư duy thực sự về môn Lịch sử. Truyền thụ kiến thức một chiều sẽ làm cho bài học thụ động và khô khan. Đề tài này đã góp phần khắc phục được hiện tượng trên. Nó thực sự đưa lại làm cho học sinh trí tò mò và ý thức tự chủ khám phá kiến thức trong sách giáo khoa. Trong quá trình vận dụng đề tài vào giảng dạy, bản thân đã thu được những kết quả khả quan và được đông đảo học sinh hứng thú. Việc áp dụng đề tài vào thực tiễn cũng rất dễ dàng. Bản thân tôi đã áp dụng rất thành công ở trường THPT Quan Sơn. Tôi mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm nhỏ này tới các đồng nghiệp, bởi sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử có thể áp dụng vào tất cả các bài học lịch sử ở trường phổ thông, kể cả các bài khai thác lược đồ. ngoài ra có thể thực hiện ở các tiết ôn tập, dạy và học thêm. Đề tài không chỉ vận dụng trong chương trình lớp 12 mà còn cả lịch sử lớp 11, lớp 10. Sau khi áp dụng đề tài vào thực tiễn tôi nhận thấy yếu tố đưa lại thành công là giáo viên phải thực sự tâm huyết với bộ môn. Sự nhiệt huyết của giáo viên sẽ làm chuyển biến nhận thực của học sinh về bộ môn Lịch sử. Nhất là trong thực trạng hiện nay đối với môn Lịch sử ở các trường THPT. Giáo viên phải biết sử dụng và khai thác công nghệ thông tin phục vụ cho bài giảng. Bởi vì đề tài cũng có thể vận dụng khi dạy các chiến dịch quân sự có lược đồ. Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm dạy học lịch sử tại trường THPT Quan Sơn. Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, tôi mong được Hội đồng khoa học, các đồng nghiệp đánh giá và góp ý để đề tài này có tác dụng thiết thực, góp phần lấy lại vị thế của môn Lịch sử trong bối cảnh hiện nay. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2016 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết, không sao chép nội dung của người khác. PHỤ LỤC Sự phân hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất PHỤ LỤC 1 Các giai cấp mới Các giai cấp cũ Tư sản Địa chủ phong kiến Công nhân Tiểu tư sản Nông dân Dân tộc Mại bản Đại địa chủ Địa chủ vừa và nhỏ (7) . (4) (3) (6) . (5) (2) . (1) Rút ra mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: PHỤ LỤC 2 SỰ XUẤT HIỆN 3 TỔ CHỨC CỘNG SẢN NĂM 1929 VÀ ĐẢNG CS VIỆT NAM RA ĐỜI Hội VNCMTN (6/ 1925) TÂN VIỆT CM ĐẢNG (1925) Một bộ phận gia nhập An Nam CS đảng (8/1929) Đông Dương CS đảng (6/1929) Phân liệt Đông Dương CS liên đoàn (9/1929) 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) 3/2/1930 24/2/1930 Cương lĩnh chính trị tháng 2/1930 Vai trò lãnh đạo Lực lượng chiến lược CMVN Nhiệm vụ chiến lược CMVN Đường lối chiến lược CMVN Vị trí CMVN . Ý nghĩa của Cương lĩnh: PHỤ LỤC 3 Khẩu hiệu đấu tranh Nhiệm vụ Hình thức mặt trận Địa điểm: Bà Điểm-Hóc Môn-Gia Định Mục tiêu đấu tranh Người chủ trì: TBT Nguyễn Văn Cừ Nội dung HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG THÁNG 11/1939 Phương pháp đấu tranh . . . * Ý nghĩa của Hội nghị: PHỤ LỤC 4 Chủ trì: Nguyễn Ái Quốc HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG THÁNG 5/1941 Địa điểm: Pắc Bó – Cao Bằng Nội dung Hình thức mặt trận Khẩu hiệu đấu tranh Nhiệm vụ Hình thái của cuộc khởi nghĩa . * Ý nghĩa của Hội nghị: PHỤ LỤC 5 Khó khăn Thuận lợi NƯỚC VIỆT NAM DCCH Chính trị Kinh tế Văn hóa Tài chính Quân sự . Nhà nước VNDCCH non trẻ bị đặt trong tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc”. PHỤ LỤC 6 NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ Đối nội Đối ngoại Diệt giặc đói Củng cố CQ Diệt giặc dốt Tài chính Đối với quân Pháp Đối với quân THDQ và tay sai . Sau 6/3 Trước 6/3 Chính trị Kinh tế PHỤ LỤC 7 Đánh HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6.3.1946 (1) . (3) Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến việc ký Hiệp định sơ bộ Nội dung (2) Hiệp ước Hoa – Pháp (28/2/1946) Hòa Việt Nam đứng trước 2 sự lựa chọn (GV phân tích tình huống) * Tác dụng của việc ký Hiệp định sơ bộ: TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Lịch sử, NXB Giáo dục 2. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, NXB Giáo dục 7/2007. 3. Lịch sử Việt Nam đại cương, tập III, NXB Giáo dục năm 1998. 4. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12- NXB Giáo dục 5. Sách giáo viên-Lịch sử lớp 12- NXB Giáo dục 6. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Lịch sử (lớp 10,11,12), NXB Giáo dục. Mục Lục
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_huong_dan_hoc_sinh_lop_12a2_va_12a5_tr.doc

