Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác kiến thức thơ văn trong dạy học Lịch sử ở một số bài trong chương trình Lịch sử lớp 12

Tại bất kì đất nước nào, việc đổi mới giáo dục ở phổ thông mang tính cải cách giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét, điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những kì vọng mới về mẫu người học sinh có được sau quá trình giáo dục. Đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học lịch sử nói riêng là một quá trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau

Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo chúng ta. Muốn thế phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy và học. Người giáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc giờ học, từ cách ổn định lớp, kiểm tra bài cũ đến cách học bài mới, củng cố, dặn dò. Những hoạt động đó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo và ngày càng yêu thích, say mê môn học.

doc 17 trang SKKN Lịch Sử 19/11/2025 140
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác kiến thức thơ văn trong dạy học Lịch sử ở một số bài trong chương trình Lịch sử lớp 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác kiến thức thơ văn trong dạy học Lịch sử ở một số bài trong chương trình Lịch sử lớp 12

Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác kiến thức thơ văn trong dạy học Lịch sử ở một số bài trong chương trình Lịch sử lớp 12
giáo viên giảng dạy Lịch sử giảng dạy đến sự kiện, biến cố lịch sử nào, nhân vật lịch sử nào thì dù muốn hay không, chúng ta cũng thường liên tưởng đến những bài thơ, áng văn đã từng đề cập đến sự kiện đó, con người đó mà chúng ta từng được đọc, được học. Trong thực tế, có không ít người vừa là nhà văn, nhà thơ đồng thời là nhà sử học mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta là một ví dụ điển hình. Nhà văn hóa, Nhà giáo dục lớn và là người nghiên cứu Lịch Sử nổi tiếng là tác giả của rất nhiều tác phẩm thơ, văn nổi tiếng như: “Tuyên ngôn độc lập”, “Vi hành”, “Ngục trung nhật ký” là những ví dụ tiêu biểu. Chính Người đã từng dạy rằng:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”
2. Cơ sở thực tiễn: 
Thực tiễn dạy - học Lịch sử ở trường THPT trong những năm gần đây: 
“ Lịch sử là sự kiện”. Đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển. Bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là những bài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh vực. Để chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở cấp THPT nói chung giảng dạy một cách khô khan, cứng nhắc, nặng về cung cấp kiến thức, sự kiện một cách đơn thuần, do vậy không gây được hứng thú học tập cho học sinh trong việc tiếp thu bài học. Tình hình này lại càng trở nên đáng lo ngại hơn khi mà Si Ma Cai chúng ta, một huyện vùng cao biên giới, mặt bằng kinh tế giáo dục cũng như dân trí còn thấp việc giáo dục học sinh và giúp học sinh hiểu được những đặc điểm cơ bản của lịch sử dân tộc để từ đó nâng cao ý thức trong việc học tập bộ môn cũng như xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Từ thực tế nêu trên bản thân tôi nhận thấy khi lồng ghép việc đưa kiến thức thơ, văn vào việc giảng dạy Lịch sử đối với học sinh lớp 12 trường THPT số 1 Si Ma Cai sẽ tạo được hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức và học sinh sẽ không cảm thấy nặng nề hay nhàm chán khi tham gia tiết học Lịch sử. Những tiết học như thế sẽ để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. Từ đó giúp học sinh nâng cao ý thức trong việc học tập bộ môn Lịch sử và từng bước nâng cao chất lượng bộ môn trong các kì thi tốt nghiệp cũng như đại học.
            Có thể nói, nền văn học nước ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sứ mệnh của nó: phản ánh hiện thực, đặc biệt là văn học hiện đại. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đổi đời cho không biết bao nhiêu nhân tài văn học. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại lại đem tới cho họ nguồn cảm hứng vô tận để họ kịp thời đưa những sự kiện Lịch sử hào hùng của dân tộc lên trang giấy. Trong số đó phải kể đến hai cây đại thụ. Đó là lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu và nhà thơ lớn Tố Hữu. 
	Bước sang thập kỷ 90, Đảng và nhà nước ta thực hiện chủ trương đổi mới một cách toàn diện và sâu rộng. Nhờ đó, bộ mặt kinh tế, xã hội nước ta ngày càng phát triển không ngừng, từng bước bắt nhịp và hòa nhập với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong khi chúng ta mở rộng cửa để đón nhận những luồng gió mới trong lành thì cũng đồng thời cũng phải hứng chịu không ít “luồng gió độc”. Một trong những “luồng gió độc” đó là sự xâm nhập của tư tưởng hưởng thụ, lối sống thực dụng. Cuốn theo dòng thác đổi mới và phát triển của đất nước, tư tưởng, lối sống đó đã len lỏi vào tận học đường, gây không ít xáo trộn trong suy nghĩ, hành động của học sinh, sinh viên. Một thực tế là trong những năm gần đây, số học sinh THPT dự thi vào các trường Sư phạm, vào các ngành KHXH thưa dần và tăng quá tải ở các ngành, các trường tự nhiên, kỹ thuật. Một số lượng không nhỏ có suy nghĩ rằng: học các ngành Tin học, Kiến trúc, Ngoại ngữ, Xây dựng, Điện tử ra trường dễ kiếm việc làm hơn, lương lại cao hơn, dễ kiếm tiền hơn. Chúng ta không phủ nhận thực tế đó nhưng rõ ràng, bản thân các em đã hướng động cơ học tập vào việc làm giàu, chạy theo đồng tiền. Khi đo nhu cầu hiểu biết về thơ văn, lịch sử, về cội nguồn, về truyền thống  dần dần phai nhạt và mất chỗ trong suy nghĩ của các em học sinh. Tất nhiên, trường THPT số 1 Si Ma Cai cũng không thoát ra khỏi guồng quay đó của xã hội. Mặt khác, hiện tại, nhà trường còn thiếu thốn khó khăn, nhất là tài liệu nghiên cứu, tư liệu tham khảo nói chung là phương tiện trực tiếp phục vụ dạy và học. Trong điều kiện đó, tôi không hy vọng gì hơn là “sáng kiến kinh nghiệm” này của tôi sẽ góp một tiếng nói riêng và cung cấp cho các đồng nghiệp một số kinh nghiệm tâm đắc được đúc rút từ lý luận và thực tiễn bản thân trong quá trình giảng dạy tại trường THPT số 1 Si Ma Cai.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Chương trình lịch sử Việt Nam Lớp 12 có nhiều bài có thể lồng ghép kiến thức thơ văn vào giảng dạy để tạo sự hứng thú cho học sinh khi học tập bộ môn.
Tài liệu văn học là nguồn tư liệu quan trọng đối với dạy học lịch sử, nó có ý nghĩa to lớn trong giáo dục, giáo dưỡng và phát triển học sinh.
 	Bằng những hình ảnh cụ thể, các tài liệu, hình tượng văn học có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người học. Văn học trình bày những nét đặc trưng, điển hình về kinh tế, chính trị, xã hộido đó giữa văn học và sử học có mối quan hệ khăng khít với nhau. 
III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
	1. Tiết 16 (theo PPCT) Bài 12 lớp 12 phần LSVN :
Khi giảng dạy phần 1. Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp: Gv có thể giành từ 3-5 phút để làm sáng tỏ tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nỗi thống khổ của nhân dân ta do chính sách bóc lột bằng cách mở đồn điền hết sức tàn bạo, ta có thể dùng hình ảnh minh họa:
“Cao su đi dễ, khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo”
(Ca dao chống Pháp)
hoặc:
“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”
(Tố Hữu – SĐD)
- Làm sáng tỏ: “Thuế khoá trong bất cứ thời gian nào cũng là nguồn bóc lột chủ yếu của thực dân đế quốc nói chung và thực dân Pháp đối với nhân dân Đông Dương nói riêng”
“ Thuế đến cả phấn son phường phố
Thuế môn bài, thuế đuốc, thuế đèn
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn
Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Thắt chặt dần như thắt chỉ xe”
2. Tiết 20 (theo PPCT) Bài 14 phần LSVN lớp 12: phong trào cách mạng 1930-1935
 Sau khi trình bày cho học sinh diễn biến của phong trào Cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ – Tĩnh, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau để minh hoạ thêm:
“Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Anh Sơn, Hà Tĩnh bốn bên dậy rồi
Không có lẽ ta ngồi chịu chết
Phải cùng nhau kiên quyết một phen
Tổng này, xã nọ kết liên
Ta hò, ta hét, thét lên thử nào”
(Tố Hữu - SĐD)
3. Tiết 24 (theo PPCT) Bài 16 – Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khới nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
- Nhằm khắc họa hình ảnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tình cảm của Người khi trở về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước trong mục 3, có thể khai thác sử dụng đoạn thơ minh họa sau:
“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Sáng rừng Việt Bắc trắng hoa mơ
Người về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”
(Tố Hữu - SĐD)
- Mở rộng thêm về Mặt trận Việt Minh, để khắc hoạ hình ảnh của Mặt Trận Việt Minh thực hiện chính sách của mình trong một “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thu nhỏ” đầy tính ưu việt, có thể sử dụng thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“ Có mười chính sách bày ra
Một là ích nước, hai là lợi dân
Bao nhiên thuế ruộng, thuế thân
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương
Họp hành, đi lại có quyền tự do
Nông dân có ruộng, có bò,
Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.
Công nhân làm lụng gian nan
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.
Gặp khi tai nạn bất ngờ
Thuốc thang Chính phủ bây giờ giúp cho.
Thương nhân buôn bán nhỏ to
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền
Nào là những kẻ chức viên
Cả lương đãi ngộ cho yên tấm lòng
Binh lính giữ nước có công
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu
Thanh niên có trường học nhiều
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho
Đàn bà cũng được tự do
Bất phân nam nữ đều cho bình quyền
Người tàn tật, kẻ lão niên
Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho
Trẻ em bố mẹ khỏi lo
Dạy nuôi, chính phủ giúp cho đủ đầy”
(Hồ Chí Minh - Lịch sử nước ta – Tập 3, Tr 152, 153)
4. Tiết 33 (theo PPCT) . Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kiết thúc (1953 - 1954). 
Khi giảng dạy phần 2. Chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ (1954) ta có thể kết hợp minh họa bằng đoạn thơ sau của Tố Hữu để phản ánh ý chí quyết tâm chiến thắng giặc của quân và dân ta, đồng thời thể hiện niềm tin yêu, hy vọng tràn đầy vào viễn ảnh tươi sáng của dân tộc từ cán bộ, đồng bào với chiến khu Việt Bắc, với cụ Hồ, với cách mạng:
“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 
Chiến sĩ anh hùng 
Đầu nung lửa sắt 
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, 
ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt 
Máu trộn bùn non 
Gan không núng 
Chí không mòn! 
Những đồng chí thân chôn làm 
giá súng 
Đầu bịt lỗ châu mai 
Băng mình qua núi thép gai 
Ào ào vũ bão, 
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo 
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm... 
Những bàn tay xẻ núi lăn bom 
Nhất định mở đường cho xe ta
lên chiến trường tiếp viện ”
5. Tiết 37 (theo PPCT). Bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965).
	Để giúp học sinh thấy rõ tội ác của Mĩ và chính quyền Ngụy và thấy được tại sao nhân dân miền Nam (đặc biệt là nhân dân Bến Tre) lại vùng lên đấu tranh mạnh mẽ như vậy trong phong trào “Đồng khởi” ta có thể minh họa bằng đoạn thơ Lá thư Bến Tre của Tố Hữu:
Biết không anh? Giồng Keo, Giồng Trôm
Thảm lắm anh à! Lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn.
Có những ông già, nó khảo tra
Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh, không chịu nhục
Lấy vồ nó đập, vọt thai ra!
Anh biết không Long Mỹ, Hiệp Hưng
Nó giết thanh niên, ác quá chừng
Hăm sáu đầu trai bêu cọc sắt
Ba hôm mắt mở vẫn trừng trừng.
Có em nhỏ nghịch, ra xem giặc
Nó bắt vô vườn, trói gốc cau
Nó đốt, nó cười em nhỏ hét
"Má ơi, óng quá, cứu con mau"!...
IV. BIỆN PHÁP CỦA GIÁO VIÊN:
+ Trong mỗi tiết dạy giáo viên nêu mục tiêu yêu cầu của tiết, mục của bài học sau đó cung cấp thông tin và phân bổ thời gian hợp lí lí để học sinh tiếp nhận thông tin.
+ Giáo viên sử dụng linh hoạt các kiến thức thơ văn phù hợp với nội dung bài dạy, tuỳ theo lớp và đối tượng học sinh mà vận dụng.
+ Giáo viên cần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, thường xuyên nghiên cứu thêm tài liệu tham khảo để vận dụng tư liệu văn thơ trong các tiết dạy linh hoạt hơn để giải quyết nhiệm vụ nhận thức ở mỗi bài học.
+ Giáo viên cần kết hợp các phương tiện dạy học như đồ dùng trực quan, hình ảnh, tranh vẽ trong sách giáo khoa, hệ thống thao tác sư phạm khi lên lớp... để góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy 
+ Trong quá trình giảng dạy , ngôn ngữ nói phải truyền cảm , không quá nhanh hoặc quá chậm, phải lôi cuốn , hấp dẫn, trình bày phải có điểm nhấn, tránh đều đều .
+ Giáo viên dạy môn lịch sử phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới trong phương pháp dạy học. 
V. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 
 Mặc dù thời gian rất hạn chế và để thực hiện được hệ thống các tư liệu thơ văn giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian , nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào một số tiết dạy và đã đạt được kết quả khả quan. Trước hết bản thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 12 và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Sử dụng tư liệu thơ văn cũng là một trong những giáo cụ trực quan giúp học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, từ đó các em có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích môn học này hơn.
* Kết quả cụ thể :
Lớp
SLHS
Giỏi
Khá
Tb
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12a1
35
02
5,7
10
28,6
21
60
02
5,7
0
0
12a2
36
0
0
02
5,6
22
61,1
10
27,7
02
5,6
 Bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ học sinh học yếu giảm đáng kể ở lớp 12a1, tỷ lệ học sinh trung bình và khá tăng nhiều so với lớp không thực hiện lồng ghép kiến thức thơ văn trong một số giờ học(12a2).
VI. MỘT SỐ LƯU Ý KHI KHAI THÁC VÀ VẬN DỤNG KIẾN THỨC THƠ VĂN.
 1. Trước hết, giáo viên phải hiểu cặn kẽ và thật tâm đắc với những tư liệu mình đã lựa chọn.
 2. Không nên ôm đồm, quá tải trong việc vận dụng kiến thức thơ văn.
 3. Luôn luôn đảm bảo tính vừa sức của học sinh (đối tượng vận dụng là học sinh lớp 12).
 4. Các kiến thức thơ văn vận dụng cần phải có nguồn gốc xuất xứ chính xác, rõ ràng.
KẾT LUẬN
Việc vận dụng kiến thức thơ văn vào giảng dạy Lịch sử, theo kinh nghiệm của bản thân tôi cùng với việc tham khảo ý kiến của nhiều đồng nghiệp khác là một việc làm rất có hiệu quả nhằm gây hứng thú cho học sinh, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi việc học lịch sử, tìm hiểu lịch sử, nhận thức lịch sử đang có chiều hướng giảm sút, xuống cấp. Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, lối suy nghĩ, cách sống thực dụng đang tác động mạnh mẽ đến từng học sinh cùng với sự thiếu thốn phương tiện, đồ dùng dạy học cũng như thái độ dạy học đối phó, qua loa, đại khái của không ít giáo viên đã và đang là những trở ngại không nhỏ đối với việc giảng dạy nói chung và dạy bộ môn Lịch sử nói riêng.
Thơ văn nói chung với ưu thế của nó: dễ thuộc, dế đi vào lòng người sẽ là một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức Lịch sử thông qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống, lịch sử cũng như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà.
 	Trong đề tài này, tôi bước đầu mạnh dạn tìm hiểu sự giao thoa giữa hai môn học Văn - Sử đúc kết thành những phần cụ thể kèm theo từng bài của Sách giáo khoa Lịch sử 12 theo chương trình cơ bản.
 Trong quá trình nghiên cứu và viết, chắc chắn đề tài sáng kiến kinh nghiệm này còn có những hạn chế, thiếu sót, tôi mong được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp, bạn bè để đề tài này được hoàn thiện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Tập 1,2 – NXB Giáo dục Việt Nam.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách giáo khoa Ngữ văn 12 .Tập 1,2– NXB Giáo dục Việt Nam.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách giáo khoa Lịch sử 12– NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách giáo viên Lịch sử 12– NXB Giáo dục Việt Nam.
5. . Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Lịch sử lớp 12 – NXB Giáo dục Việt Nam.
6. Trên mạng internet

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_khai_thac_kien_thuc_tho_van_trong_day.doc
  • docbao_cao_tom_tat_hieu_qua_skkn.doc
  • docdon_bao_cao_skkn_2013.doc
  • docdon_bao_cao_skkn_2013_2014.doc