Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác tài liệu tiểu sử Nguyễn Ái Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1930, lớp 12 THPT - Ban cơ bản

Bộ môn lịch sử có đặc trưng riêng biệt so với các môn tự nhiên cũng như so với các môn khoa học xã hội khác. Lịch sử là những việc rất cụ thể diễn ra trong quá khứ, không lặp lại nguyên si, càng không thể “tái tạo” được trong phòng thí nghiệm, bởi lịch sử gắn liền với không gian và thời gian xác định, với những con người cụ thể. Nói đến lịch sử là nói đến tính cụ thể, tính duy nhất. Do đó, trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông việc nhận thức lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động mà từ việc nắm bắt các sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử. Tạo biểu tượng là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử; với những tư liệu cụ thể, giàu hình ảnh, tài liệu về tiểu sử và hoạt động của nhân vật sẽ dựng lại chân dung nhân vật đó. Đồng thời giúp giáo viên cụ thể hoá kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, làm sáng tỏ sự kiện lịch sử, góp phần tạo nên một bức tranh chân thực, sinh động về một sự kiện lịch sử.

“Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử”. Song khi khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân, chủ nghĩa Mác- Lênin không phủ nhận vai trò của các lãnh tụ, các nhà lãnh đạo và nhân vật kiệt xuất trong sự phát triển của xã hội. Hoạt động của các nhân vật này hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp có ý nghĩa thúc đẩy hay kìm hãm sự vận động của lịch sử trong giai đoạn nhất định. Do đó “mỗi bài học lịch sử đều phải phác hoạ cho học sinh những nhân vật lịch sử cụ thể” (7, 57). Lịch sử là sản phẩm hoạt động của con người. Trong lịch sử không thể vắng bóng con người. Hơn nữa cuộc đời hoạt động của các nhân vật lịch sử luôn phản ánh một phương diện, một mức độ nhất định của lịch sử dân tộc, của quần chúng nhân dân. Suy cho cùng, nhân vật sinh ra từ thời đại, từ dân tộc, từ một tầng lớp dân chúng cụ thể. Cho nên, việc khai thác tiểu sử nhân vật cũng cung cấp nguồn tài liệu, nguồn kiến thức quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn lịch sử. Nó góp phần tạo biểu tượng chân thực, chính xác về nhân vật lịch sử để giúp học sinh hình thành khái niệm lịch sử.

doc 26 trang SKKN Lịch Sử 04/11/2025 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác tài liệu tiểu sử Nguyễn Ái Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1930, lớp 12 THPT - Ban cơ bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác tài liệu tiểu sử Nguyễn Ái Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1930, lớp 12 THPT - Ban cơ bản

Sáng kiến kinh nghiệm Khai thác tài liệu tiểu sử Nguyễn Ái Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1930, lớp 12 THPT - Ban cơ bản
 Bác đã phải đương đầu trên con đường tìm kiếm chân lí cách mạng.
 Không có loại nhân vật duy nhất, có cùng một vai trò lịch sử, không có yêu cầu chung cho bài học lịch sử. Các nhân vật lịch sử vốn đa dạng, phong phú về tính cách, phẩm chất, cống hiếndo đó, phương pháp sử dụng tiểu sử nhân vật cũng phong phú, tuỳ thuộc vào sự sáng tạo của giáo viên. Có thể dẫn ra hai biện pháp phổ biến sau:
 Một là, khi trình bày sự kiện liên quan đến nhân vật lịc sử, giáo viên lược thuật về nhân vật lịch sử rồi đưa ra nhận xét, kết luận đánh giá.
 Hai là, giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị sẵn nội dung tiểu sử nhân vật cần sử dụng (theo gợi ý của giáo viên). Trong giờ học, giáo viên gọi một em trình bày, sau đó giáo viên sửa chữa, hoàn thiện các chi tiết cần thiết. Cuối cùng giáo viên đưa ra câu hỏi cho cả lớp: 
- Em có nhận xét gì về nhân vật?
- Hành động của nhân vật có ảnh hưởng gì tới sự kiện lịch sử và đất nước?
Học sinh trả lời được các câu hỏi chứng tỏ các em đã nắm được kiến thưc cơ bản của bài.Qua việc sử dụng tiểu sử nhân vật sẽ gây được xúc động mạnh mẽ trong học sinh
Hạn chế của biện pháp này: Có thể mất khá nhiều thời gian vì kết hợp đàm thoại với học sinh.Nhưng bù lại học sinh hứng thú, say mêvới bài học, hiểu rõ về nhân vật và sự kiện.Biện pháp này đồi hỏi cả giáo viên và học sinh đều phải đọc trước tài liệu tham khảo, nghiên cứư trước về nhân vật và sự kiện, do đó sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh.
 b. Đối với những nhân vật mà tên tuổi gắn liền với một chiến công hay sự kiện nổi bật nhất định thì khi khai thác tiểu sử nhân vật ấy chỉ cần chú trọng đến chi tiết liên quan đến sự kiện mà không trình bày đến toàn bộ tiểu sử nhân vật.
 VD: khi dạy bài 12, mục II.1, giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày lướt qua tiểu sử Phạm Hồng Thái từ khi chào đời đến năm 1924, sau đó, tập trung vào các hành động trong vụ mưu sát Meclanh. Có thể định hướng cho học sinh tìm hiểu về các vấn đề sau:
-Vì sao Phạm Hồng Thái và các đồng chí của mình quyết định ám sát viên toàn quyền Méclanh?
- Phạm Hồng Thái đã chuẩn bị việc này như thế nào?
- Diễn biến của vụ mưu sát ra sao?
- Kết quả của vụ mưu sát?
Sau cùng giáo viên và học sinh sẽ giải quyết 2 câu hỏi quan trọng:
Em có nhận xét gì về tấm gương chiến đấu hi sinh của liệt sĩ Phạm Hồng Thái?
- Sự thất bại của vụ mưu sát phản ánh tình trạng cách mạng Việt Nam lúc đó như thế nào?
 Phương pháp trên, đã khơi dậy trong học sinh lòng khâm phục, sự dũng cảm và khí tiết cách mạng của người thanh niên trẻ Phạm Hồng Thái. Mặt khác, các em cũng thấy được tính phiêu lưu, mạo hiểm của hành động ám sát cá nhân và sự bế tắc trong hoạt động cứu nước của thanh niên Việt Nam trước khi có ĐCS.
 c. Đối với những nhân vật có cống hiến trên lĩnh vực kinh tế, chỉ cần tập trung vào các chi tiết tiểu sử có liên quan đến hoạt động kinh tế của họ.
 Một điểm cần lưu ý là: trong một bài có thể nhắc đến một số nhân vật cùng nhóm (cùng hoạt động và cùng đóng góp trên lĩnh vực) nhưng thời gian mỗi tiết học chỉ có 45 phút nên giáo viên phải lựa chọn nhân vật tiêu biểu nhất để giới thiệu.
 Với những nhân vật vì điều kiện thời gian, không thể tìm hiểu trên lớp được, giáo viên có thể hướng dẫn các em tự tìm hiểu, sưu tầm và viết bài thu hoạch dưới hình thúc bài tập nhằm tập dượt các em làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và mở rộng nguồn kiến thức.
 Để đảm bảo tính chính xác, có hình ảnh về nhân vật, trong khi sử dụng tài liệu về tiểu sử nên kết hợp với ảnh chân dung, ảnh hoạt động hoặc những thước phim ngắn về nhân vật, sau đó có thể nêu những khía cạnh nội dung tranh ảnh.
 7.6.2. Trong giờ ngoại khóa:
 a. Đọc sách.
 Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc sách, hướng dẫn các em lập danh mục các sách cần đọc. Để khơi dậy tính tích cực, sự hứng thú, hiếu kỳ và lòng ham hiểu biết của học sinh, giáo viên tóm tắt sơ lược nội dung cuốn sách và dẫn ra một vài chi tiết hấp dẫn để kích thích học sinh tìm đọc.
 b. Kể chuyện lịch sử.
 Đây là hình thức hấp dẫn, dễ làm và có tác dụng cao. Đặc biệt, kể chuyện về các nhân vật lịch sử thường lôi cuốn được sự chú ý của học sinh, gây xúc động mạnh mẽ đối với các em. Đó là những người thực, việc thực, những tấm gương chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc.
 Có nhiều hình thức kể chuyện về nhân vật lịch sử, trong đó phổ biến nhất là kể chuyện thông qua sách báo, tài liệu về nhân vật. Kể vào các dịp tổ chức các ngày lễ lớn như 3- 2, 26- 3, 19- 5
 c. Nói chuyện lịch sử.
 Nói chuyện lịch sử có nội dung cao hơn kể chuyện lịch sử. Nói chuyện lịch sử chủ yếu là các tư duy khái quát được minh hoạ, dẫn chứng bằng các sự kiện lịch sử cụ thể, rõ ràng, phù hợp với nội dung chương trình nội khoá và mục tiêu chính trị trước mắt. Do đó, với đối tượng học sinh các lớp dưới không thể tiến hành thường xuyên các hoạt động ngoại khoá nói chuyện lịch sử, nhưng với học sinh lớp 12 có thể tổ chức hình thức học tập này bất cứ khi nào có điều kiện.
 d. Dạ hội lịch sử.
 Là một hoạt động ngoại khoá có tính chất tổng hợp, thu hút tất cả học sinh trong lớp, trong khối hoặc toàn trường tham dự. ưu thế nổi bật của dạ hội lịch sử là tái tạo được bức tranh lịch sử, khơi dậy “không khí lịch sử”
 Do vậy, việc học sinh trực tiếp nghiên cứu, chuẩn bị, tiến hành, tham dự các hoạt động nội và ngoại khoá lịch sử dưới sự định hướng của giáo viên sẽ tạo nhiều hứng thú, say mê của các em đối với học tập môn lịch sử.
 8. Những thông tin cần được bảo mật
Không
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
 Thực nghiệm sư phạm.
 9.1. Mục đích.
 Việc khai thác tiểu sử nhân vật nhằm cụ thể hoá một số sự kiện liên quan trọng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930 là việc làm còn khá mới lạ với nhiều GV THPT. Vậy phương pháp này có thực sự cần thiết không? Có đem lại kết quả cao không? Để trả lời cho những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở hai lớp 12 trường THPT Yên Lạc 2, với tiết 17 (theo phân phối chương trình), bài 12: “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925”- Tiết 2. Kết quả thực nghiệm sẽ làm bằng chứng đánh giá hiệu quả việc khai thác và sử dụng tiểu sử nhân vật trong dạy học lịch sử và tính khả thi của nó trong thực tiễn.
 9.2. Nội dung.
 Để tiến hành thực nghiệm chúng tôi chuẩn bị:
 - Giáo án để dạy cho lớp thực nghiệm, trong đó dự kiến nhân vật Nguyến Ái Quốc cần khai thác tiểu sử khi dạy bài này và phương pháp sử dụng.
 - Giáo án cho lớp đối chứng dạy theo nội dung và phương pháp truyền thống, không sử dụng tài liệu tiểu sử nhân vật.
 9.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm.
 Chúng tôi chọn lớp 12D2 có 43 học sinh là lớp thực nghiệm và lớp 12D3 với sĩ số 39 học sinh là lớp đối chứng. Học sinh của hai lớp này có trình độ nhận thức và ý thức học tập môn lịch sử tương đương nhau. 
 Sau tiết học, để đánh giá hiệu quả của bài học, chúng tôi kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh hai lớp bằng hai câu hỏi giống nhau, với cùng thời gian 10 phút. Câu hỏi:
 1. Sắp xếp thời gian tương ứng với sự kiện trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ từ 1890 đến 1925 với hai cột sau:
A. Thời gian
B. Thời gian
a. 1911
1. Đưa bản yêu sách đến Hội nghị Vecxai
b. 1924
2. Năm sinh của Bác.
c. 1890
3. Ra đi tìm đường cứu nước.
d. 1925
4. Tham gia Đại hội V Quốc tế cộng sản
e. 1920
5. Sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niê
f. 1919
6. Lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa.
g.1921
7. Đọc bản sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc, thuộc địa của Lênin.
2. Hãy nêu nhận xét của em về phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919- 1925? 
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả 
Kết quả.
Lớp
Tổng số bài
Loại giỏi (8- 10 điểm)
Loại khá (6.5 – 7.5 điểm)
Loại TB (5- 6 điểm)
Loại yếu (dưới 5 điểm)
Tổng số
%
Tổng số
%
Tổng số
%
Tổng số
%
12D2 thực nghiệm
43
08
18.7
22
51.1
13
30.2
0
0
12D3 đối chứng
39
1
2.6
12
30.8
19
48.7
07
17.9
 Qua bảng thống kê cho thấy: ở lớp thực nghiệm, kết quả kiểm tra đạt được kết quả cao hơn lớp đối chứng, số điểm khá và giỏi tỉ lệ cao hơn, không có bài bị điểm kém, còn ở lớp đối chứng thì ngược lại. 
 Thực tiễn tiến hành thực nghiệm cho thấy: ở lớp thực nghiệm giáo viên sử dụng tài liệu tiểu sử nhân vật trong giảng dạy, học sinh trật tự, chăm chú nghe giảng, có hứng thú học tập, có ý thức xây dựng bài, xuất hiện các cảm xúc lịch sử trước tấm gương của nhân vật lịch sử được giới thiệu. Qua kết quả kiểm tra cũng chứng tỏ ở lớp 12D2, học sinh cũng nắm bắt các kiến thức cơ bản ngay trên lớp do có ý thức học tập nghiêm túc nên các em cũng tự mình rút ra được những kết luận, nhận xét chính xác.
 Ở lớp 12D3, giáo viên giảng bài theo kiểu thông thường, không sử dụng tài liệu tham khảo, cũng không khai thác tiểu sử nhân vật, học sinh không chủ động đưa ra cách giải quyết những câu hỏi giản đơn, ít hứng thú. Vì vậy, kết quả học tập thu được không cao.
 Như vậy, việc khai thác và sử dụng tài liệu tiểu sử nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930, lớp 12, THPT, nếu được tiến hành với một phương pháp hợp lí sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học một cách rõ rệt.
11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):
Số TT
Tên tổ chức/cá nhân
Địa chỉ
Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến
1
Hoàng Thúy Dịu
Trường THPT Yên Lạc 2
Lịch sử








2
Lớp 12D2
Trường THPT Yên Lạc 2
Lịch sử
3
Lớp 12D3
Trường THPT Yên Lạc 2
Lịch sử




......., ngày.....tháng......năm......
Thủ trưởng đơn vị/
Chính quyền địa phương

........, ngày.....tháng......năm......
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG 
SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

........, ngày.....tháng......năm......
Tác giả sáng kiến
Phụ lục
Ngày soạn:
Ngày giảng:
Tiết: 17
Bài 12: PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM 1919 – 1925 
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1.Kiến thức
- Hiểu được những thay đổi của thế giới sau chiến tranh, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và sự chuyển biến giai cấp xã hội ở Việt Nam 
- Phong trào dân tộc, dân chủ 1919 – 1925 
2.Kỹ năng
 Xác định được ndung cơ bản, phân tích, đánh giá SKLS trong bối cảnh lsử cụ thể
3.Tư tưởng
 Tinh thần yêu nước, ý thức phản kháng dân tộc do sự xâm lược và thống trị của ĐQ.
 II.THIẾT BỊ DẠY HỌC:
 - Bản đồ, tranh ảnh, chân dung các nhà yêu nước CM tiêu biểu
 III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC 
 1.Ổn định lớp
 2. Kiểm tra bài cũ : Nội dung chủ yếu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của TD P?
 3. Bài mới
 Dẫn vào bài:
Hoạt động dạy – học:
Hoạt động của thầy – trò
Kiến thức cơ bản

? Những hiểu biết của em về PBC?
- quá trình hoạt động
- tuyên truyền cách mạng T10 Nga về Việt Nam,
- 29-10-1940 tại Bến Ngự, PBC qua đời
? Nêu những hiểu biết của em về PCT ?
? em biết gì về liệt sĩ Phạm Hồng Thái và tiếng bom sa diện?
- GV: giới thiệu về tiểu sử nhân vật
-Em có nhận xét gì về hành động yêu nước của Phạm Hồng Thái?
-HS trả lời, Gv chốt ý.
? nêu những nét chính của phong trào đấu tranh của TS dân tộc ?
? em có nhận xét gì về mục tiêu và thái độ chính trị của TS dân tộc ?
-GV hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu về tiểu sử nhân vật Nguyễn An Ninh sau đó viết bài thu hoạch.
? em có nhận xét gì về phong trào đấu tranh của TTS?
? tóm tắt các cuộc đấu tranh của công nhân, nêu nhận xét về phong trào đấu tranh của công nhân trong thời gian này ?
? Nêu vài nét về tiểu sử NAQ? Một số hoạt động tiêu biểu của NAQ giai đoạn 1919 – 1924 ?
(Kết hợp sử dụng bản đồ và hình ảnh Nguyễn Tất Thành)
Sử dụng phần tiểu sử như mục 3.2.1 của đề tài)
? Vai trò, công lao đầu tiên của NAQ với cách mạng Việt Nam ?
?Những hoạt động của NAQ ở LX có ý nghĩa NTN cho CM VN về sau?
II. PHONG TRÀO DÂN TỘC, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM 1919 – 1925
1. Hoạt động của PBC, PCT và một số người Việt Nam ở nước ngoài
a. Phan Bội Châu
- CMT10 Nga làm thay đổi quan điểm cách mạng của PBC, từ đó ông chuyển sang nghiên cứu, tìm hiểu về cách mạng T10.
- Tháng 6/1925: PBC bị bắt tại TQ và đưa về an trí tại Huế từ năm 1926
b. Phan Châu Trinh
- Tiếp tục hoạt động yêu nước tại Pháp
- 1925 về nước, hoạt động theo đường lối cũ
- 3/1926 ông từ trần
c. Tại TQ
- Nhóm thanh niên yêu nước: Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Công Viễn, thành lập Tâm Tâm Xã
- 19-6-1924: tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái gây tiếng vang lớn
2. Hoạt động của TS, TTS và công nhân VN
a. Tư sản
- Sau chiến tranh, TS mở các cuộc vận động tẩy chay hàng ngoại, dùng hàng nội
- 1923: địa chủ, TS đấu tranh chống độc quyền cảng SG và xuất khẩu gạo ở Nam Kỳ của TB Pháp.
- 1923: thành lập Đảng lập hiến đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ
b. Tầng lớp TTS trí thức: đấu tranh sôi nổi đòi tự do, dân chủ. Một số tổ chức chính trị được thành lập với nhiều hình thức phong phú. Các cuộc đấu tranh tiêu biểu: đòi thả PBC 1925, để tang PCT 1926,
c. Công nhân
- Đấu tranh của cn ở Chợ Lớn – SG -> thành lập công hội
- 8/1925 thợ máy xưởng Ba Son bãi công đòi tăng lương, buộc Pháp phải nhượng bộ.
=> đánh dấu bước phát triển của phong trào cn từ tự phát -> tự giác
3. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
- Cuối năm 1917, NAQ trở lại Pháp và gia nhập Đảng xã hội Pháp.
- 18-6-1919: NAQ gửi đến hội nghị Véc-xai bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
- Giữa năm 1920: NAQ đọc bản sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin -> tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc
- 25-12-1920: dự đại hội Tua, tán thành việc gia nhập quốc tế III và thành lập ĐCS Pháp
- Năm 1921: thành lập hội liên hiệp thuộc địa và ra báo người cùng khổ làm cơ quan ngôn luận của Hội; viết bài cho các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân,đặc biệt là viết cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp (được bí mật chuyển về nước)
- 6-1923: sang Liên Xô dự ĐH quốc tế nông dân.
- Năm 1924: dự ĐH V quốc tế CS
=> công lao: 
- Tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam 
- Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của ĐCS. 

4. Củng cố
Tác động của nó đến kinh tế, chính trị, xã hội và sự phân hóa g/c ở Việt Nam 
Công lao của NAQ đối với cách mạng Việt Nam 
5. BTVN, dặn dò
Học bài, trả lời câu hỏi sgk
Đọc trước bài mới (Bài 13 )
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Côi, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, Trường Đại học sư phạm Hà Nội,1995.
Đỗ Hoàng Linh và Nguyễn Văn Dương, Chuyện kể về thời niên thiếu của Bác Hồ, nxb Văn hoá thông tin, 2008.
Phạm Văn Đảng, Về việc đổi mới phương pháp giáo dục ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6, 1994.
Chu Trọng Huyến, kể chuyện về gia thế chủ tịch Hồ Chí Minh, nxb Thuận Hoá, 2009.
Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị, phương pháp dạy học lịch sử, nxb giáo dục,2001.
C. Mác- Ănghen, tuyển tập-tập 2, nxb Sự thật Hà Nội, 1979.
Hồ Chí Minh toàn tập, các tập: 3,6,12, nxb chính trị Quốc gia, Huế 1996.
N.G.Đairi, Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?, nxb Giáo dục hà Nội, 1987.
Nhiều tác giả, Trước mặt kẻ thù, nxb Hà Nội, 1985.
 Lênin, Bút kí Triết học, nxb St, Hà Nội 1963.
 Lê Minh Quốc, kể chuyện danh nhân cách mạng Việt Nam, nxb Trẻ 2002.
 Đinh Xuân, Thực trạng dạy và học môn lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay, tạp chí Xưa và nay, số 1-1989.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_khai_thac_tai_lieu_tieu_su_nguyen_ai_q.doc