Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia Chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000

A. Mục đích, sự cần thiết của việc "Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học sinh giỏi quốc gia chuyên đề quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000"

Việc lựa chọn chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000, xuất phát từ việc thực hiện đúng tinh thần, đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trên tinh thần Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đầu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Do đó, việc hiểu biết về lịch sử quan hệ quốc tế là điều vô cùng cần thiết, quan trọng.

Xuất phát từ vị trí ảnh hưởng của chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000 đối với chương trình dạy học tại các lớp chuyên sử.

Nội dung chuyên đề, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000; về mối quan hệ giữa các quốc gia, những biến động lớn trong quan hệ quốc tế hiện nay.... Nội dung chuyên đề đảm bảo chuẩn kiến chức và chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học, vừa đảm bảo những tri thức về lịch sử, vừa gợi mở những suy nghĩ về hiện tại và tương lai; vừa mang tính lí thuyết, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với sự hội nhập quốc tế của đất nước. Hệ thống các câu hỏi liên quan mật thiết với kiến thức cơ bản, mang tính thực tế cao và được trả lời một cách khoa học, logic...

doc 36 trang SKKN Lịch Sử 04/11/2025 230
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia Chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia Chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000

Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia Chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000
̀ đối đầu sang đối thoại.
	- Tuy vậy Mĩ vẫn không từ bỏ chiến lược của mình: ngăn chặn, đẩy lùi tiến 
tới tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa. Năm 1991 chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ.
	6. Trình bày những sự kiện quan trọng trong quan hệ quốc tế năm 1972. Từ đó hãy chỉ ra tác động của những sự kiện đó đối với Việt Nam cùng thời điểm
	- Tháng 2 - 1972, Tổng thống Mĩ Níchxơn sang thăm Trung Quốc, mở đầu thời kì quan hệ hai nước được cải thiện theo chiều hướng hòa dịu. Nhờ đó đến đầu năm 1979 hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức.
	- Tháng 5 - 1972, Tổng thống Mĩ Níchxơn sang thăm Liên Xô, hai nước Xô - Mĩ chuyển dần quan hệ từ đối đầu sang đối thoại. Hiệp ước về hạn chế phòng chống tên lửa (ABM) được hai nước kí kết nhằm giảm dần chạy đua vũ trang và Chiến tranh lạnh.
	- Trên cơ sở những thỏa thuận Xô - Mĩ, tháng 11 - 1972, Cộng hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức kí hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức. Theo đó, hai nước tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
	- Những sự kiện trên nằm trong học thuyết Níchxơn. Mĩ lợi dụng tính đa cực và mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa, từ đó Mĩ bắt tay, hòa hoãn với các nước lớn xã hội chủ nghĩa để cô lập cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta, gây khó khăn cho Việt Nam.
	7. Việc chấm dứt Chiến tranh lạnh đã tác động đến các mối quan hệ quốc tế từ sau năm 1991 đến 2000 như thế nào?
Việc chấm dứt Chiến tranh lạnh tạo nên những chuyển biến quan trọng trong quan hệ quốc tế và cục diện chính trị thế giới:
	- Quan hệ giữa 5 nước Uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại, thoả hiệp, hợp tác, giải quyết những tranh chấp xung đột quốc tế.
	- Khối Vácsava tự giải thể (3 - 1991) nên không còn các khối quân sự đối 
đầu nhau.
	- Các tranh chấp, xung đột khu vực chuyển dần sang giải quyết bằng đối thoại, hợp tác như Xô - Mĩ hợp tác, thoả hiệp giải quyết các vụ xung đột khu vực: Nam Phi, Ápganixtan, Trung Đông, Campuchia, Namibia,...
	- Liên Xô không can thiệp vào Đông Âu, chấm dứt thực hiện những cam kết với các nước xã hội chủ nghĩa.	
	9. Hãy nêu các xu thế phát triển của thế giới sau khi “Chiến tranh lạnh” chấm dứt. Trong quá trình hội nhập với thế giới hiện nay, nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức nào 
	a. Xu thế phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh: Lý thuyết
	b. Liên hệ Việt Nam
	* Thời cơ: Việt Nam có điều kiện thuận lợi để
	+ Mở rộng tăng cường sự hợp tác quốc tế.
	+ Thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào Việt Nam, 
	+ Mở rộng thị trường. 
	+Tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ, 
	+ Học tập kinh nghiệm quản lý của các nước tiên tiến. 
	- Để xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế...
	* Thách thức: 
	+ Sức cạnh tranh yếu, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, luật pháp chưa hoàn thiện. 
	+ Trước nguy cơ diễn biến hoà bình và các hình thức bóc lột mới, hội nhập, hợp tác quốc tế phải đảm bảo được độc lập tự do, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và lợi ích của dân tộc. 
	+ Nguy cơ tụt hậu, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, bệnh tật, tệ nạn xã hội.
	Vì vậy đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vững mạnh, năng động và linh 
hoạt để nắm bắt kịp thời với những biến động của tình hình thế giới, có đường lối phát triển đất nước đúng đắn, biết nắm bắt thời cơ thuận lợi tạo ra một sức mạnh tổng hợp của quốc gia, có khả năng cạnh tranh về kinh tế trong bối cảnh thế giới là một thị trường, nếu không sẽ bị tụt hậu và lệ thuộc...
	10. Trước những vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế ở Biển Đông, theo em, tổ chức Liên Hợp Quốc, "Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á" (ASEAN) và Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ gì trong việc giải quyết vấn đề trên.
	- Xu thế phát triển chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay là hòa bình và hợp tác, cùng phát triển bởi hòa bình là mong muốn, là khát vọng, xu thế phát triển của các dân tộc trên thế giới, còn chiến tranh để lại hậu quả hết sức nặng nề. Hòa bình là cơ sở, điều kiện để các quốc gia ổn định và phát triển mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
	- Song, ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột... Trong đó, vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế gần đây ở Biển Đông là việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển Việt Nam... (tháng 5 - 2014). Tại biển Đông của Việt Nam sau khi hạ đặt trái phép, giàn khoan HD 981, Trung Quốc ngang nhiên tiến hành khoan thăm dò dầu khí trong thềm lục địa thuộc đặc quyền kinh tế của nước ta, xung quanh giàn khoan HD 981, Trung Quốc có những tàu quân sự đội lốt dân sự bảo vệ, những tàu này liên tiếp có những hành động gây hấn với lực lương kiểm ngư của ta trên biển làm cho tình hình Biển Đông hết sức căng thẳng.
	* Thái độ của tổ chức Liên Hợp quốc và tổ chức ASEAN
	Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về những việc làm của Liên Hợp Quốc, ASEAN để thực hiện nhiệm vụ duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực Biển Đông như : 
	- Lên án mạnh mẽ những hành động trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông, 
yêu cầu Trung Quốc thực hiện đúng Công ước về Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, nguyên tắc ứng xử các bên trên biển Đông DOC (2002).
	- Thể hiện vai trò, trách nhiệm chung trong việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình...
	- Nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết mọi vấn đề chủ quyền và quyền tài phán ở biển Đông bằng biện pháp hòa bình và không sử dụng vũ lực. Kêu gọi các bên liên quan kiềm chế để tạo bầu không khí thuận lợi cho giải pháp cuối cùng đối với các tranh chấp...
	* Quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam 
	- Quan điểm của Chính phủ ta là giải quyết hòa bình vấn đề biển Đông, dựa trên các nguyên tắc trong Hiệp ước Bali 2 - 1976, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC), những tuyên bố có tính pháp lý quốc tế khác. 
	- Kiên quyết không để một tất đất, tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm. Đối với bất cứ người Việt Nam nào, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.... Việt Nam cam kết giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình, nhưng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền.
	+ Việt Nam đoàn kết với nhau, cùng thể hiện trách nhiệm chung đấu tranh bảo vệ hòa bình và an ninh trong khu vực.
	+ Lên án mạnh mẽ những hành động vi phạm các nguyên tắc gây mất hòa bình, an ninh trên biển Đông.
	+ Kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới
	11. Hãy phân tích những mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc
	- Mâu thuẫn hệ tư tưởng, Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, nhưng mâu thuẫn về ý thức hệ là tư tưởng tư sản và vô sản không vì thế mà mất đi, các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mĩ vẫn chưa từ bỏ 
ý đồ, xóa bỏ hoàn toàn các nước xã hội chủ nghĩa.
	- Mâu thuẫn giữa các nước lớn xung quanh việc thiết lập trật tự thế giới mới, khác với các trật tự thế giới trước đây thường được thiết lập sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Trật tự thế giới mới hiện nay không thể ra đời ngay sau khi Liên Xô tan rã, mặc dù Mĩ đã tuyên bố về một trật tự đơn cực do Mĩ chi phối nhưng thực tế đã không diễn ra theo ý Mĩ. Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tồn tại với tiềm lực kế thừa của Liên Xô cũ và họ không phải là nước bại trận để dễ dàng chấp nhận một trật tự thế giới do Mĩ áp đặt. Mặt khác các trung tâm kinh tế, các cường quốc khu vực như Tây Âu, Nhật Bản không ngừng lớn mạnh, họ đang cố gắng tạo cho mình một vị thế đáng kể để chia sẻ quyền lợi và chi phối đời sống chính trị quốc tế.
	- Mâu thuẫn về lợi ích dân tộc, Chiến tranh lạnh chấm dứt lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu, mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ đều có lợi ích dân tộc, đều thể hiện thái độ riêng của mình về các vấn đề quốc tế.
	- Mâu thuẫn về sắc tộc và tôn giáo, đây là mâu thuẫn đã từng tồn tại lâu đời trong lịch sử nhân loại, nhưng trong thời kì Chiến tranh lạnh do mâu thuẫn đối kháng Đông - Tây bị át đi và bản thân các nước lớn Xô - Mĩ đang mâu thuẫn nên chưa có điều kiện bùng nổ. Xung đột về sắc tộc và tôn giáo là hậu quả chính sách chia để trị của chủ nghĩa thực dân. Sau Chiến tranh lạnh kết thúc các cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo lại có điều kiện bùng nổ, trong đó đặc biệt là chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có điều kiện hoạt động và trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố hiện nay.
	- Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển.
	12. Những nhân tố tác động đến sự hình thành trật tự thế giới mới sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt và trật tự hai cực Ianta sụp đổ 
	- Sau khi trật tự hai cực Ianta sụp đổ, một trật tự thế giới mới đang dần hình thành, tương lai của nó phụ thuộc vào các yêu tố sau:
	+ Sự phát triển về thực lực kinh tế của các cường quốc Mĩ, Nga, Nhật Bản, 
Trung Quốc, Đức, Pháp trong cuộc chạy đua về sức mạnh quốc gia tổng hợp, trong đó sức mạnh về kinh tế - tài chính là chủ yếu.
	+ Sự lớn mạnh của các lực lượng cách mạng thế giới:
	Sự thành bại của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam. Nếu thắng lợi họ sẽ có vị thế trên trường quốc tế và ngược lại.
	Sự phát triển của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. 
	Sự phát triển của phong trào đấu tranh vì hòa bình dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới là một trong những lực lượng để Mĩ không thể thiết lập trật tự đơn cực.
	+ Sự vươn lên của các nước Á, Phi, Mĩ Latinh sau khi giành độc lập trở thành những nước công nghiệp mới và có vị thế trong quan hệ quốc tế: Nam Phi, Mêhicô, Braxin, Hàn Quốc, Xinhgapo...
	+ Sự phát triển của khoa học - kĩ thuật sẽ tác động quan trọng tới trật tự này.
	- Vì vậy, thế giới đang hình thành một trật tự đa cực.
	13. Những xu thế phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh. Trong tình đó, Việt Nam cần làm gì để phù hợp với các xu thế trên?
	a. Xu thế: Phần lý thuyết trình bày ở trên.
	b. Việt Nam cần làm gì để phù hợp với các xu thế trên
	Trong bối cảnh thế giới như trên, Việt Nam cần chú trọng phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước, để không ngừng phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ngoài việc tập trung phát triển kinh tế, chúng ta cũng cần chú ý đến việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền lãnh thổ. Chúng ta cần kiên trì sử dụng các biện pháp đấu tranh hòa bình, tránh xung đột quân sự. Tuy nhiên nếu các thế lực bên ngoài vi phạm chủ quyền lãnh thổ, chúng ta sẽ có các hành động cứng rắn để đáp trảNhững biện pháp trên giúp nước ta hòa nhập được với xu thế phát triển chung của thế giới nhưng vẫn bảo vệ được an ninh, chủ quyền lãnh thổ và bản sắc dân tộc.
	14. Có đúng không khi khẳng định rằng Mĩ và các nước đồng minh của Mĩ đã khởi động cuộc Chiến tranh lạnh từ những năm 1947 - 1949.
	 Mĩ và các nước đồng minh của Mĩ đã khởi động cuộc Chiến tranh lạnh thể hiện qua ba sự kiện sau:
	1. Tháng 3 - 1947, trong diễn văn đọc trước Quốc hội Mĩ Tổng thống Truman khẳng định sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ đối với nước Mĩ. Theo Truman thì “Chủ nghĩa cộng sản đang đe dọa thế giới tự do” và “Nga Xô đang bành trướng thuộc địa ở châu Âu” Vì vậy Mĩ phải “đảm nhiệm lãnh đạo thế giới tự do”, phải “giúp đỡ” các dân tộc trên thế giới chống lại “sự đe dọa của Chủ nghĩa Cộng Sản”. Đây được xem là sự kiện khởi đầu cho chính sách chống Liên Xô gây nên tình trạng Chiến tranh lạnh.
	2. Tháng 6 - 1947 Mĩ đề ra “Kế hoạch Macsan” giúp đỡ các nước Tây Âu phục hồi kinh tế.
	+ Mục đích: Nhằm tập hợp các nước Tây Âu vào liên minh quân sự chống Liên Xô và các nước Đông Âu.
	+ Hệ quả: Việc thực hiện kế hoạch này đã tạo ra sự phân chia đối lập về kinh tế, chính trị giữa các nước Tây Âu tư bản chủ nghĩa với các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa.
	3. Tháng 4 - 1949, Mĩ thành lập tổ chức hiệp ước bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước phương Tây do Mĩ cầm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
	III. Khả năng áp dụng của sáng kiến
	Sáng kiến "Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học sinh giỏi quốc gia chuyên đề quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000" có thể áp dụng trong quá trình giảng dạy học sinh giỏi cấp tỉnh và học sinh giỏi cấp quốc gia. 
	Sáng kiến kinh nghiệm trên đã được thực hiện trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp. Trong quá trình đó, tôi đã cố gắng tập hợp tài liệu, làm rõ hơn những kiến thức trong sách giáo khoa, tái hiện lại quá khứ, giúp học sinh hiểu biết sâu sắc và chính xác các sự kiện lịch sử đã học, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập, tạo dựng thói quen vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn hiện nay.
	IV. Hiệu quả, lợi ích từ sáng kiến "Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học sinh giỏi quốc gia chuyên đề quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000". 
	Trong những năm học 2016 - 2017, tôi đã tiến hành áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấp quốc gia. Việc giảng dạy chuyên đề với những kiến thức chuyên sâu đồng thời chú trọng rút ra bài học áp dụng vào thực tiễn cuộc sống hiện nay đã đem lại cách nhìn toàn diện về quan hệ quốc tế 1945 - 2000, hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, phát triển năng lực nhận thức, khơi dậy trong các em niềm yêu thích bộ môn, nhờ đó kết quả học tập của các em cao hơn, qua đó góp phần nâng cao kết quả thi học sinh giỏi cấp quốc gia như sau:
Năm học
Số học sinh đạt giải
Giải nhất
Giải nhì
Giải ba
Giải khuyến khích
2015 - 2016
3/6
0
0
1
2
2016 - 2017
6/6
0
2
3
1
	Qua bảng thống kê kết quả thi học sinh giỏi cấp quốc gia trong 2 năm học 2015 - 2016 và 2016 - 2017, tôi nhận thấy việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên đã đem lại kết quả cao trong ôn luyện học sinh giỏi cấp quốc gia.
V. Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến "Lựa chọn nội dung và phương 
pháp dạy học sinh giỏi quốc gia chuyên đề quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000". 
	Sáng kiến kinh nghiệm "Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học sinh giỏi quốc gia chuyên đề quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000" có thể áp dụng trong quá trình giảng dạy học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia môn Lịch sử ở tất cả các trường trung học phổ thông trong toàn tỉnh.
VI. Kiến nghị, đề xuất
1. Đối với Giáo viên
 Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, mỗi giáo viên cần:
+ Có ý thức xây dựng, tập hợp tài liệu trong quá trình dạy học. 
+ Thường xuyên cập nhật kiến thức mới trong quá trình dạy học, đặc biệt là cập nhật chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong xu thế chung của thế giới hiện nay.
+ Chú ý xây dựng hệ thống bài tập với hệ thống câu hỏi mở, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn đặt ra.
+ Giáo viên phải thực sự tâm huyết, đầu tư thời gian cho việc chuẩn bị đồ dùng trực quan và cách khai thác khi lên lớp. 
2. Đối với Nhà trường: Tiếp tục tạo điều kiện cho giáo viên giao lưu, học hỏi với đồng nghiệp các trường chuyên khác để nâng cao trình độ chuyên môn.
VII. Danh sách đồng tác giả: Không
 Người viết
 Dương Thị Minh Hồng

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_lua_chon_noi_dung_va_phuong_phap_on_ta.doc