Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919 - 1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh

Lịch sử không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội mà trong chừng mực không nhỏ còn là công cụ giáo dục tình cảm, đạo đức, phẩm chất. Đó là giáo dục lòng yêu nước, trung thành với dân tộc, với cách mạng, với Đảng... là việc noi gương người xưa để hành động trong ngày hôm này.

Nhưng hiện nay trong xã hội và nhà trường môn lịch sử và bị xem là là môn phụ. Kết quả học tập của học sinh rất yếu kém và đáng báo động. Vậy nguyên nhân do đâu? Phải chăng dạy và học lịch sử hiện nay chưa tìm ra một “ kim chỉ nam” đúng đắn chuẩn xác để định hướng đi chung. Hiện nay việc dạy và học sử đang thu hút sự chú ý của toàn xã hội.

Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các ban ngành liên quan đã có những biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy sử và học sử trong trường phổ thông. Có rất nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là những giáo viên trực tiếp dạy sử hiện nay cũng có những nỗ lực để tìm ra con đường , biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy và học lịch sử hiện nay.

doc 22 trang SKKN Lịch Sử 19/11/2025 150
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919 - 1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919 - 1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919 - 1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh
g Bạch Thái Bưởi không bao giờ nghĩ tới chuyện bỏ cuộc. Mỗi tháng ông bỏ ra tới hơn 2.000 đô-la Mỹ tiền thuê tàu, nhưng chạy mỗi chuyến chỉ được 15 đến 20 đồng Đông Dương. Nguy cơ vỡ nợ hiện hữu trước mắt nhưng nhờ bản tính nhanh nhạy, thông minh hơn người nên ông đã tìm cách vượt qua khó khăn. Mặc dù lép vế hơn rất nhiều so với các đối thủ về cả nhân lực và vật lực, song yếu tố vô cùng quan trọng giúp Bạch Thái Bưởi vượt qua khủng hoảng là tinh thần dân tộc. Là người hiểu hơn ai hết những thiệt thòi của người Việt trong thương trường thời kỳ bấy giờ nên ông đã chủ trương khơi dậy lòng tự tôn dân tộc. Ông đã cử người lên các bến tàu để vận động người dân ủng hộ mình trong cuộc cạnh tranh với người ngoại quốc. Mỗi tàu, ông cho đặt một cái ống, kêu gọi mọi người ai có lòng tùy tâm bỏ tiền vào đấy để giúp chủ tàu có thêm chi phí kinh doanh. Sự tinh tế trong cách làm của ông đã được đông đảo công chúng đón nhận bằng những tình cảm quý báu. Và rồi, hành khách của ông cứ mỗi ngày một tăng lên, ông dần xây dựng được thương hiệu bền vững trong thị trường. Trong khi đó, các đối thủ của ông dù tung ra rất nhiều thủ đoạn để chèn ép song vẫn lần lượt hứng chịu thất bại, nhiều chủ tàu nước ngoài thậm chí bị phá sản phải bán tàu lại cho Bạch Thái Bưởi.
"Chúa sông Bắc kỳ"
Có thể nói, thành công lớn nhất trong sự nghiệp của Bạch Thái Bưởi chính là nghề hàng hải, một nghề xưa nay không phải sở trường của người Việt và luôn bị các thế lực ngoại bang chèn ép. Đây là nghề ông gặp phải nhiều gian nan, nguy hiểm nhất nhưng cũng đầy vẻ vang trong sự nghiệp của mình. Từ chỗ phải bỏ tiền thuê 3 chiếc tàu để kinh doanh, dần dần ông đã mua hẳn 3 con tàu này. Đặc biệt, ông còn thâu tóm được các đội tàu của các công ty thuộc sở hữu của người Pháp và người Hoa sau khi bị phá sản như Marty D'Abbadie, Desch Wanden... Thậm chí chính những người Pháp trong các công ty này được ông thu nạp để làm công cho mình.
Tiềm lực ngày càng mạnh, thế đứng ngày càng vững nhưng Bạch Thái Bưởi không bao giờ chịu bằng lòng với những thành quả đạt được. Ông tham vọng tổ chức một đội tàu thật lớn, có quy mô hoành tráng. Với tầm nhìn xa, tư duy chiến lược, ông đã chủ trương thu mua tất cả các tàu cũ, nhất là tàu của các đối thủ cạnh tranh. Điều đặc biệt là ông cố ý mua đắt hơn rất nhiều so với giá thị trường nhằm cắt cơ hội của các đối thủ. Bước đi chiến lược ấy rõ ràng có cơ sở, bởi trước đó, ông đã thương lượng thành công và mua lại một xưởng sửa chữa tàu của người Pháp khi người chủ qua đời. Những con tàu sau khi được tân trang, nâng cấp đã phát huy hiệu quả, mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể.
Sau gần chục năm kinh doanh trên sông nước, Bạch Thái Bưởi đã tạo dựng một cơ ngơi khép kín từ chạy tàu đến đóng tàu, sửa chữa tàu với hàng loạt chi nhánh ở nhiều nơi. Đến năm 1916, công ty hàng hải mang tên Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Bưởi đã ra đời với lá cờ hiệu màu vàng có hình chiếc mỏ neo và 3 ngôi sao đỏ. Với tư duy lớn, lại giàu lòng tự tôn dân tộc, ông đã từng bước khẳng định được trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Năm 1919, tại Cửa Cấm (Hải Phòng), ông đã cho hạ thủy con tàu Bình Chuẩn hoàn toàn do người Việt tự thiết kế và thi công. Con tàu này dài tới 46m, rộng hơn 7m, cao 3,6m, trọng tải 600 tấn, công suất trên 400 mã lực, chạy bằng hơi nước, vận tốc đạt 8 hải lý/giờ. Một năm sau đó, tàu Bình Chuẩn xuất phát từ Hải Phòng và cập bến Sài Gòn trong sự chào đón nồng nhiệt của công chúng. Đây được xem là sự kiện nổi bật nhất trong Phong trào chấn hưng thương trường cổ động thực nghiệp của giới tư sản Việt Nam lúc bấy giờ.
Được mệnh danh là "Chúa sông Bắc kỳ", mỗi năm, công ty của Bạch Thái Bưởi chở tới hơn 5.000 chuyến, với 1,5 triệu hành khách và hơn 15 vạn tấn hàng. Không chỉ ở trong nước, công ty của ông mở rộng tầm hoạt động khắp Đông Dương và các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore Tên tuổi ông không những gắn liền với ngành hàng hải, mà còn gắn liền với những ngành vốn độc quyền của các thế lực ngoại bang như in ấn, khai thác mỏ Ông trở thành thần tượng của các thế hệ doanh nhân Việt Nam. 
Câu chuyện giáo viên kể với mục đích: học sinh hiểu biết về một nhà tư sản nối tiếng của dân tộc, đồng thời khâm phục, trân trọng bộ phận tư sản người Việt – những người ít nhiều có tinh thần dân tộc, là lực lượng có thể tham gia vào phong trào cách mạng dân tộc.
 - Bài 13 SGK 12 cơ bản - khi Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu – Trung Quốc thành lập Hội Việt nam Cách mạng thanh niên, giáo viên kể câu chuyện.
An be Xa rô, từ toàn quyền Đông Dương về làm bộ trưởng thuộc địa ở Pháp, có lần hăm dọạ Nguyễn Ái Quốc như lại vach ra đúng hành trình của Nguyễn Ái Quốc từ Pháp đi Liên Xô, từ Liên Xô đi Quảng Châu ( Trung Quốc):
 “ Nước Pháp rất khoan hồng, nước Pháp rất muốn làm những việc cải cách. Nhưng nước Pháp sẽ không tha thứ cho những người nào từ Pa ri đến Mạc tư khoa, từ Mạc tư khoa đến Quảng Châu và từ Quảng Châu đến Đông Dương kiếm cách gây nên những sự rối loạn”.
 ( Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch - Trang 61
 - Trần Dân Tiên).
2.3.4. Sử dụng đoạn phim lịch sử.
a. Cơ sở đề xuất các giải pháp.
Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ, giúp học sinh có thể hiểu rõ về từng sự kiện lịch sử giáo viên sưu tầm những đoạn phim tư liệu đưa vào tiết học sẽ khiến học sinh hứng thú và nhớ sự kiện lâu hơn.
b. Tổ chức, triển khai thực hiện.
- Bài 12 tiết 1 – SGK 12 cơ bản, khi dạy mục 3. Những chuyển biến mới về giai cấp xã hội ở Việt Nam, về tình cảnh người nông dân, để bài học thêm sinh động, học sinh hiểu rõ hơn về đời sống cực khổ của người nông dân, họ bị thực dân, đại địa chủ dồn đến bước đường cùng, giáo viên chiếu đoạn phim chị Dậu bán con và bán chó trích trong phim Chị Dậu.
- Bài 12 tiết 2 – SGK 12 cơ bản, khi dạy mục 3 hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, giáo viên chiếu đoạn phim trích trong tập phim tài liệu “ Hồ Chí Minh – chân dung một con người”. Đoạn phim tư liệu về cuộc hành trình cứu nước của Bác sẽ khơi dậy thêm trong các em lòng khâm phục và kinh yêu Bác Hồ trong cuộc hành trình đầy gian vì độc lập tự do cho Tổ quốc.
2.3.5. Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Cơ sở đề xuất các giải pháp.
Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã và đang thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên khắp cả nước, các nhà trường đã và đang phát động tổ chức thực hiện cuộc vận động này. Để góp phần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vân động này tại trường học thì việc lồng ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết. việc tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử sẽ đem đến cho học sinh một buổi học lí thú, một niềm tin, nhận thức đúng đắn, tránh những tư tưởng sai lệch do những thông tin ngoài luồng, do tác động của xã hội.
b. Tổ chức, triển khai thực hiện.
Trong một bài dạy có thể dùng hình ảnh, tư liệu, phim tư liệu, kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh, trích dẫn những câu nói của Bác hoặc tư liệu văn học về Bác để giáo dục tư tưởng của Bác đối với học sinh ( ở những phần trên đã trình bày). Sau đây là trích dẫn một số câu nói, bài phát biểu của Người.
- Bài 12 tiết 2 SGK cơ bản- Hoạt động của nguyễn ái Quốc.
 + Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất “Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê nin”, giáo viên đọc đoạn trích trong Hồ Chí Minh toàn tập.
 “ Luận cương của Lê nin làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.
 ( Hồ Chí Minh).
+ Khi nói về mối quan hệ giữa phong trào đấu của vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Người phát biểu “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”.
2.3.6. Sử dụng bảng hệ thống kiến thức.
a. Cơ sở đề xuất các giải pháp.
Trong dạy học Lịch sử, phương pháp lập bảng hệ thống kiến thức, so sánh có vai trò hết sức quan trọng: tạo hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức, phát triển các thao tác tư duy và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. 
Đề cao việc hướng dẫn học sinh phương pháp lĩnh hội kiến thức nhanh, sâu sắc và nhớ lâu bằng những cách thức đơn giản. Nhờ đó học sinh có thể mất ít thời gian học tập, song vẫn mang lại kết quả cao. Qua đó rèn luyện các kĩ năng tư duy, thực hành (tổng hợp, khái quát kiến thức, kĩ năng lập bảng biểu). 
b. Tổ chức, triển khai thực hiện.
Giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919 – 1930 có nhiều sự kiện lịch sử khó nhớ, vì vậy khi dạy xong cả chương, để học sinh khắc sâu, hệ thống hóa kiến thức, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh làm một số bảng hệ thống kiến thức sau.
- Lập bảng về phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc với phong trào đấu tranh của vô sản ( 1919- 1930 ).
Thời kì.
Nội dung.
phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc. 
phong trào đấu tranh của vô sản.

1919-
1925.
Các cuộc đấu tranh chủ yếu.
- Chấn hưng nội hoá. Bài trừ ngoại hoá.
- Chống sự chèn ép của tư bản Pháp: Chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, chống độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kì.

 Có 25 cuộc đấu tranh quy mô tương đối lớn.
8/ 1925 công nhân Ba Son bãi công.

Tổ chức.
 Lập Đảng Lập hiến nhưng chưa phải là chính đảng.
 1920 Lập Công hội Sài Gòn - Chợ Lớn.
6. 1925 lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.

Mục tiêu đấu tranh.
 Đòi quyền lợi kinh tế cho giai cấp mình.
 Nặng mục tiêu kinh tế, đòi cải thiện đời sống.

Tính chất.

 Thoả hiệp, cải lương.

 Tự phát.

1926-
1930.
Các cuộc đấu tranh chủ yếu.

1929 ám sát Ba danh.
1930 khởi nghĩa Yên Bái.
Các cuộc đấu tranh nổ ra liên tục khắp cả nước. 1928 - 1929 có 40 cuộc đấu tranh.
Tổ chức.
 25. 12. 1927 Lập Việt Nam Quốc dân đảng.
 1929 lập 3 tổ chức Cộng sản.
3. 2. 1930 lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục tiêu đấu tranh.
Đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.
Kết hợp mục tiêu kinh tế với chính trị.
Đảng ra đời xác định 2 mục tiêu: Độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày.

Tính chất.
Kết quả.
Manh động, bạo động non.
Thất bại. Mất quyền lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
 Từ tự phát lên tự giác.
1930 tự giác hoàn toàn. Nắm độc quyền lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
- Lập bảng về phong trào đấu tranh của công nhân từ 1919 -1929.
Thời gian
Phong trào đấu tranh
Nhận xét
Giai đoạn 1919-1925
- Năm 1920 công nhân Sài gòn - Chợ Lớn thành lập công hội do Tôn Đức Thắng đứng đầu.
- Năm 1922 công nhân viên chức Bắc Kì đấu tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật có lương.
- Năm 1924 công nhân các nhà máy dệt Nam Định, xay sát Hải Dương, Rượu Hà Nội đấu tranh đòi tăng lương
- 8/1925 công nhân thợ máy xưởng Ba Son (Sài Gòn) bãi công ngăn cản tàu chiến Pháp chở lính sang đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc.
- Mục tiêu đấu tranh nặng về kinh tế, chưa có tổ chức và lãnh đạo. Vì thế, phong trào công nhân thời kì này mang tính tự phát.
- Riêng cuộc bãi công của công nhân Ba Son (8/1925) đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam, chuyển từ đấu tranh tự phát sang tự giác.

Gia đoạn 1926-1929
- Từ 1926-1927, nước ta liên tiếp nổ ra các cuộc bãi công của công nhân viên chức, học sinh. Tiêu biểu là cuộc bãi công nhân của 1000 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm, đồn điền cao su Phú Riềng
- Từ 1928 - 1929 có 40 cuộc đấu tranh nổ ra trong toàn quốc, tiêu biểu là phong trào công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy diêm cưa Bến Thuỷ, công nhân Ba Son (Sài Gòn) Họ đòi tăng lương, đòi Pháp thi hành luật lao động
- Các phong trào đấu tranh mang tính chất chính trị, bước đầu liên kết nhiều ngành, nhiều địa phương.
- Các cuộc đấu tranh có tổ chức và lãnh đạo, phối hợp chặt chẽ.
- Khẩu hiệu đấu tranh được nâng cao, ngoài đòi quyền lợi kinh tế thì họ còn đấu tranh đòi quyền lợi chính trị.
=> Chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và phong trào công nhân mang tính tự giác.

Sau khi lập một số bảng hệ thống kiến thức trên, học sinh sẽ nắm được một số nội dung kiến thức theo chiều dài lịch sử từ 1919 đến 1930, từ đó các em sẽ thấy được sự phát triển, mối liên hệ của các sự kiện lịch sử ở từng giai đoạn, làm tăng khả năng hệ thống và khái quát vấn đề lịch sử cho bản thân.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 
Sáng kiến kingh nghiệm“Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919-1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh" đã được tôi sử dụng để giảng dạy chính khóa và một số tiết ôn đội tuyển học sinh giỏi trong năm học 2013 - 2014. Kết quả cụ thể như sau:
KẾT QUẢ DẠY ĐẠI TRÀ
Lớp
Điểm giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu
12 Văn ( 27)
9
14
4
0
12 Anh ( 38)
10
21
7
0
12 A1 ( 41)
14
20
7
0

KẾT QUẢ ÔN ĐỘI TUYỂN HSG
Các cấp/năm
Cấp tỉnh
Duyên Hải BB
Cấp Quốc gia

2011- 2012
04
3 KK
0

2012 - 2013
04
03 KK
01

2013 - 2014
07
1 Bạc, 1 KK
01


KẾT LUẬN
Dù giảng dạy ở bộ môn nào, người giáo viên cũng đạt được những yêu cầu chung lí luận dạy học theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước qui định. Bất cứ giáo viên bộ môn nào cũng đều phải có tư tưởng, tình cảm đúng đắn, lành mạnh, trong sáng, có tấm lòng nhiệt thành đối với nghề nghiệp, góp phần giáo dục, giảng dạy cho thế hệ trẻ theo mục tiêu đào tạo của Đảng và Nhà nước. Bất cứ người giáo viên bộ môn nào cũng phải không ngừng nâng cao sự hiểu biết kiến thức của bộ môn, mở rộng sự hiểu biết kiến thức chung có liên quan đến bài giảng, có phương pháp dạy tốt, không ngừng hoàn thiện, cải tiến phương pháp dạy và nghiệp vụ sự phạm để đảm bảo cho vai trò người thầy giáo được nâng cao. 
Qua kinh nghiệm nhỏ về “Một số biện pháp giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919-1930 nhằm phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh" theo đặc thù bộ môn, kinh nghiệm này dù nhỏ, khá đơn giản, nhưng có thể hình thành được những hiểu biết ban đầu giúp cho học sinh nhận thức và hứng thú hơn và chủ động, tích cực khi học tập bộ môn Lịch sử.
Kinh nghiệm nhỏ trên góp phần cho bản thân tôi tích lũy kinh nghiệm, vốn kiến thức phục vụ trong quá trình giảng, học tập để nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn.Với thời gian hạn hẹp và khả năng còn nhiều hạn chế cùng với kinh nghiệm giảng dạy còn ít, chắc chắn sáng kiến còn nhiều thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
 Lào cai, tháng 4 năm 2014
	Người viết
 Nguyễn Thị Tâm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12- NXBGD 2010. 
2- Nhập môn sử học - NXB Giáo dục 2001. 
3- Lý luận dạy học của Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị - NXB Giáo dục 2004.
4- Tạp chí nghiên cứu lịch sử- 2009.
5- Con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông của Ngô Minh oanh NXB Giáo dục năm 2008. 	

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giang_day_giai_doan_l.doc
  • docbao_cao_tom_tat_tam_su.doc
  • docbia_skkn_2014.doc
  • docdon_skkn.doc
  • docmuc_luc.doc