Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh đạt kết quả cao trong kì thi trung học phổ thông quốc gia môn Lịch sử
Những năm gần đây nền giáo dục phổ thông nước ta đang từng bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là chuyển từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề.
Lịch sử là môn học mang tính nhân văn và phát triển con người. Nó không chỉ hướng con người biết về những mối quan hệ hiện tại, kết nối hiện tại với quá khứ, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Từ năm học 2016 – 2017, môn Lịch sử là một môn thi trong bài tổ hợp Khoa học xã hội, số học sinh đăng kí thi THPT quốc gia bộ môn Lịch sử ngày càng tăng.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh đạt kết quả cao trong kì thi trung học phổ thông quốc gia môn Lịch sử
trước những tác động lớn từ bên ngoài. Trong các dạng đề thi, các em sẽ gặp câu hỏi liên quan giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc. Ví dụ các em biết được những thắng lợi của quân Đồng minh từ cuối năm 1944 đến giữa tháng 8/1945 sẽ hiểu rõ tác động của những thắng lợi đó đối với Cách mạng Việt Nam (điều kiện khách quan góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945)... 2.3.3.3. Vận dụng 'công thức 5 cụm từ khóa' khi học về chủ trương, đường lối đấu tranh của Đảng qua các hội nghị thời kì 1930 – 1945 Thực tiễn cho thấy, học sinh hay bị nhầm lẫn và rối rắm khi học về các chủ trương, đường lối đấu tranh của Đảng, nhất là thời kì 1930 – 1945. Để khắc phục những hạn chế trên, trong quá trình ôn tập, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng công thức xác định được “5 cụm từ khóa” dưới đây (các Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930, tháng 7/1936, tháng 11/1939, tháng 5/1941 và tháng 3/1945 đều đề cập đến những nội dung này): - Xác định đường lối chiến lược cách mạng (lưu ý đường lối chiến lược cách mạng không bao giờ thay đổi): Đầu năm 1930, Cương lĩnh của Đảng xác định cách mạng Việt Nam sẽ trải qua 2 giai đoạn là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, sau khi thành công sẽ bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để tiến lên xã hội cộng sản. Sau năm 1975, Việt Nam thực hiện giai đoạn 2 của đường lối này. - Xác định kẻ thù, nhiệm vụ cách mạng (có thể thay đổi do hoàn cảnh lịch sử). Ví như, trong giai đoạn 1936 – 1939, Đảng xác định kẻ thù cách mạng không phải là đế quốc Pháp nói chung mà là bọn phản động thuộc địa và tay sai, Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 xác định kẻ thù là đế quốc Pháp và tay sai, Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 xác định kẻ thù là đế quốc – phát xít Nhật, Pháp và tay sai, Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng sau ngày Nhật đảo chính Pháp xác định kẻ thù chỉ còn phát xít Nhật và tay sai của chúng – Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim). - Xác định lực lượng cách mạng và thành lập mặt trận dân tộc thống nhất (có thể thay đổi do hoàn cảnh lịch sử). Ví như, tháng 7/1936, Đảng đưa ra chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến tháng 3/1938 đổi tên thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tháng 11/1939 đổi tên thành Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, tháng 5/1941 thành lập mặt trận dân tộc thống nhất đầu tiên của riêng Việt Nam – Mặt trận Việt Minh. - Đưa ra khẩu hiệu đấu tranh (có thể thay đổi do hoàn cảnh lịch sử). - Xác định hình thức, phương pháp cách mạng (có thể thay đổi do hoàn cảnh). Riêng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) cần có thêm nội dung quan trọng này: Nhấn mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân (với ba sự chuẩn bị cốt lõi về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng). 2.3.4. Rèn luyện kĩ năng làm bài thi. 2.3.4.1.Chú trọng rèn cho học sinh những kỹ năng thực hành cơ bản sau: - Đọc hiểu vấn đề và xác định phương án trả lời theo yêu cầu của câu hỏi. Ví dụ: Kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam sau khi Nhật đảo chính Pháp (9 - 3 - 1945) là A. phát xít Nhật. B. đế quốc Pháp. C. đế quốc Pháp và tay sai. D. đế quốc Pháp - Nhật. - Đọc hiểu thông tin (đề thi có câu hỏi liên quan đến đọc hiểu 1 đoạn văn bản, câu nói, tuyên ngôn) sẽ yêu cầu thí sinh phải hiểu sự kiện để lựa chọn. Đoạn trích” Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc” thể hiện nội dung nào của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng ta? A. Toàn dân kháng chiến. B. Toàn diện kháng chiến. C. Trường kỳ kháng chiến. D. Tự lực cánh sinh kháng chiến. - So sánh, tổng hợp, khái quát và kết nối các sự kiện, hiện tượng lịch sử giữa các bài, giai đoạn có liên quan Ví dụ: Nội dung đổi mới về kinh tế ở Việt Nam (từ tháng 12 - 1986) và Chính sách kinh tế mới (NEP, 1921) ở nước Nga có điểm tương đồng là A. ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và giao thông vận tải. B. xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước. C. xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, kiểm soát bằng pháp luật. D. thay chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực. - Vận dụng, liên hệ kiến thức đã học với thực tiễn (ví dụ như tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đối với Việt Nam, vấn đề chủ quyền biển đảo, các bài học kinh nghiệm rút ra từ các cuộc kháng chiến, xây dựng chính quyền) Ví dụ. Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 có thể vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là A. xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu. B. tăng cường liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương. C. kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao. D. kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. 2.3.4.2. Nắm vững bí quyết làm bài thi để đạt điểm cao: - Thứ nhất, dễ làm trước – khó làm sau: Cần rèn kỹ năng phân tích và xử lý nhanh. Không nhất thiết phải làm theo trình tự hay số thứ tự của câu hỏi. Câu hỏi nào cảm thấy đơn giản, hãy làm trước để tiết kiệm thời gian. - Thứ 2, tìm ra “từ khóa” của câu hỏi: Hãy xác định “từ khóa” (điểm nhấn) của các câu hỏi trắc nghiệm lịch sử có đáp án. Từ đó, sẽ có thể giải quyết câu hỏi một cách nhanh chóng mà không bị lạc đề hay nhầm lẫn kiến thức. - Thứ 3, dùng phương pháp loại trừ: Trong trường hợp không nhớ chính xác hoặc không chắc chắn về đáp án thì hãy thật bình tĩnh, đừng hoang mang! Thay vì chỉ nghĩ đến phương án đúng, hãy thử tìm ra phương án sai và cố gắng loại trừ càng nhiều phương án càng tốt. - Thứ 4, tuyệt đối không để trống đáp án Việc bỏ trống câu trả lời chỉ vì không biết rất đáng tiếc nên giáo viên nhắc nhở học sinh có thể chọn đáp án ít xuất hiện ở những câu trên nhất, chọn đáp án các em tin tưởng nhất ... tùy trường hợp. Một điều nữa đó chính là khi chọn sai các em cũng không bị mất điểm hoặc mất rất ít điểm, hơn nữa, thay vì đi tìm đáp án đúng, các em hãy thử tìm đáp án sai cũng là cách hay và loại trừ càng nhiều đáp án càng tốt, vậy thì 50-50 các em vẫn nên chọn một đáp án khả thi nhất. 2.3.5. Kết hợp ôn tập kết thức cơ bản và làm đề trắc nghiệm để củng cố. Để làm tốt bài thi việc nắm vững kiến thức cơ bản là quan trọng, tuy nhiên học sinh cần phải được làm quen và rèn luyện cách làm bài . Vì vậy ở giai đoạn đầu ôn tập tôi thường kết hợp ôn kiến thức cơ bản và làm đề kiểm tra ngay phần vừa ôn để củng cố kiến thức. VD: Khi ôn tập chủ đề: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945- 1947) tôi yêu cầu học sinh nắm những nội dung cơ bản như hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của Hội nghị Ianta; Sự ra đời, mục đích, hoạt động, vai trò của tổ chức Liên hợp quốc. Đồng thời soạn hệ thống câu hỏi trong chủ đề này để học sinh làm nhằm củng cố kiến thức luôn. 2.3.6. Coi trọng công tác luyện đề, sửa các lỗi học sinh thường mắc. - Ra đề và đáp án Rèn luyện kỹ năng làm bài cho HS, đây là một công việc không dễ, đòi hỏi nhiều thời gian công sức của cả thầy và trò mới đem lại kết quả như mong muốn. Bởi đa số các em điểm yếu nhất đó chính là kỹ năng làm bài. Vì thế giáo viên chỉ nói hoặc nhắc nhở thôi thì chưa hẳn các em đã hiểu và khắc phục được. Do đó cần phải có thời gian kiểm định qua các bài kiểm tra viết mới thấy được sự tiến bộ rõ rệt của từng em. Đề tôi soạn cho các em từ các nguồn tư liệu và bám sát SGK, theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia của Bộ GD&ĐT. Sử dụng các câu hỏi khó trong tài liệu chuẩn kiến thức kỹ năng, s¸ch gi¸o khoa vµ s¸ch bµi tËp, nh÷ng c©u hái gi¶i thÝch suy luËn đòi hỏi học sinh phải hiểu vấn đề mới làm được. - Trong quá trình ôn tập, cùng một vấn đề nhưng tôi đưa ra nhiều dạng câu hỏi khác nhau để rèn cho học sinh có khả năng xử lý linh hoạt các yêu cầu của đề đưa ra. VD. Những quốc gia Đông Nam Á tuyên bố độc lập trong năm 1945 là A. Inđônêxia, Việt Nam, Lào. B. Campuchia, Malaixia, Brunây. C. Inđônêxia, Xingapo, Malaixia. D. Miến Điện, Việt Nam, Philippin. Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của chính đảng Cộng sản, những quốc gia nào ở Đông Nam Á giành độc lập? A. In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào. B. Việt Nam, Mi-an-ma, Lào. C. Việt Nam, Lào. D. Phi-lip-pin, Việt Nam, Ma-lai-xi-a. - Chấm, chữa, sửa lỗi học sinh thường mắc Sau mỗi bài kiểm tra tôi đều rất chú trọng và quan tâm đến chấm và sửa lỗi cẩn thận chi tiết cho các em, nhận xét vào bài của các em, giảng gải chop các em hiểu vì sao phải chọn đáp án này mà không phải là những đáp án khác Sau khi chấm chữa kỹ lưỡng, tôi đều phát đáp án chi tiết và yêu cầu các em xem bài rút kinh nghiệm những sai sót. Những câu hỏi nhiều học sinh sai tôi sẽ đánh dấu và sẽ cho làm lại vào các bài kiểm tra sau. - Với các lỗi học sinh thường mắc: Thứ nhất, xác định đáp án sai với những câu hỏi quen thuộc kiểm tra kiến thức cơ bản do đọc không kĩ câu hỏi VD. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á là thuộc địa của A. quân phiệt Nhật Bản. B. đế quốc Âu – Mỹ. C. đế quốc Pháp và Anh. D. đế quốc Mỹ. Câu hỏi này nhiều học sinh xác định đáp án B do kiến thức quen thuộc là trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á là thuộc địa của các nước đế quốc Âu – Mỹ và không đọc kĩ câu hỏi khi chỉ thay từ “trước” và “trong” chiến tranh thế giới thứ hai. Thứ hai, nhầm lẫn giữa các khái niệm như: nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ trước mắt, mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, trận thắng tiêu biểu với trận quyết chiến chiến lược, chủ nghĩa thực dân cũ với chủ nghĩa thực dân mới, đánh bại cơ bản hay đánh bại hoàn toàn, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu... VD. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Đông Dương trong những năm 1936- 1939 là A. chống chế độ phản động thuộc địa. B. chống đế quốc, chống phong kiến. C. giải phóng các dân tộc Đông Dương. D. thành lập mặt trận dân chủ. Với câu hỏi này nhiều học sinh sẽ xác định đáp án B do nhầm lẫn giữa nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ trước mắt. Thứ ba, xác định đáp án sai với những câu hỏi so sánh. VD. Hội nghị tháng 11 - 1939 và Hội nghị tháng 5 - 1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương có điểm khác biệt về A. việc giải quyết quyền lợi ruộng đất cho nông dân. B. việc xác định hình thức chính quyền cách mạng. C. chủ trương đoàn kết các lực lượng dân tộc. D. chủ trương giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Thực tế giảng dạy tôi thấy ở câu hỏi trên nhiều học sinh xác định sai đáp án do chưa hiểu đúng bản chất, vì vậy trong quá trình ôn luyện tôi luôn chú ý luyện cho học sinh so sánh giữa các vấn đề đang học với những nội dung đã học. Với quan điểm “mưa dầm, thấm lâu”, giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá học sinh một cách chính xác, việc tăng cường kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm trong quá trình dạy học sẽ góp phần quan trọng trong việc định hướng và giúp học sinh ôn luyện kiến thức, rèn các kĩ năng cần thiết để các em tự tin hướng đến kì thi tốt nghiệp THPT Quốc gia. 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. Sau khi áp dụng những biện pháp trên thì chất lượng ôn tập của học sinh các lớp tôi dạy được nâng lên rõ rệt, các em đã nắm vững kiến thức cơ bản, hiểu đúng bản chất các vấn đề lịch sử, có kĩ năng phân tích đề, xác định chính xác đáp án trong các câu hỏi nhận biết, thông hiểu, biết tư duy, suy luận để xác định đúng đáp án với các câu hỏi vận dụng. Từ đó kết quả học tập bộ môn Lịch sử đã tiến bộ rõ rệt, các em tự tin bước vào kì thi THPT quốc gia. Kết quả kiểm tra cuối học kì 2 ở các lớp tôi dạy như sau: Lớp Sĩ số Điểm giỏi (Từ 8 đến 10) Điểm khá (Từ 6,5 đến 7,9) Điểm TB (Từ 5 đến 6,4) Điểm yếu (Từ 3,5 đến 4,9) SL % SL % SL % SL % 12T4 42 11 26,1 22 52,3 8 19,3 1 2,3 12T5 39 13 33,3 19 48,7 7 18 0 0 12T6 41 9 22,5 15 37,5 14 35 2 5 12C2 40 8 20 17 42,5 14 35 1 2,5 Trên đây là toàn bộ kinh nghiệm, thực tiễn ôn tập, dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT Quảng Xương 1, tôi đã thực hiện trong những năm học vừa qua. Với những điều bản thân đã lĩnh hội được, hy vọng sẽ có được bài học đóng góp phần nào để có thể nâng cao chất lượng ôn tập và hiệu quả khi giảng dạy theo tinh thần đổi mới căn bản toàn diện sự nghiệp giáo dục. 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1. Kết luận: - Dạy học sinh 12 khó nhất vẫn là làm thế nào để nâng cao chất lượng thi THPT Quốc gia, nhất là khi Bộ Giáo dục Đào tạo đang đẩy mạnh công tác đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực người học. Từ kết quả thu được trong quá trình ôn luyện cho học sinh tôi thấy để giúp học sinh đạt điểm cao trong thi THPT Quốc gia, đòi hỏi giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt với từng đối tượng học sinh, người giáo viên phải tích cực tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, phân tích kĩ đề thi tham khảo của Bộ GD&ĐT, từ đó có những biện pháp cụ thể giúp đỡ học sinh ôn tập tốt. định hướng học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo, đổi mới trong cách tiếp cận kì thi. 3.2. Kiến nghị: Để thuận lợi cho việc ôn tập, đáp ứng kỳ thi THPT quốc gia, đề nghị các cấp lãnh đạo, quản lý giáo dục quan tâm, tạo điều kiện đầu tư trang bị sách báo, tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, máy chiếu, băng hình ...để giáo viên chúng tôi có thể áp dụng những kinh nghiệm dạy học, ôn tập, một cách thiết thực, hiệu quả nhất. Trên đây là “ Một số biện pháp giúp học sinh đạt kết quả cao trong kỳ thi THPT Quốc gia môn Lịch sử.” Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu nhà trường, các đồng chí, đồng nghiệp và cán bộ phụ trách chuyên môn cấp trên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 22 tháng 5 năm 2019 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết Bùi Thị Hà TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Sách giáo khoa Lịch sử (chương trình chuẩn và chương trình nâng cao) lớp 11, Nxb Giáo dục, 2008. 2. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Sách giáo khoa Lịch sử (chương trình chuẩn và chương trình nâng cao) lớp 12, Nxb Giáo dục, 2008. 3. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Sách Lịch sử (sách giáo viên), Nxb Giáo dục, 2006. 4. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Lịch sử lớp 12, Nxb Giáo dục, 2006. 5. Bộ giáo dục – Đào tạo, Tài liệu chuẩn kiến thức môn lịch sử lớp 12 (NXB giáo dục). 6. Trương Hữu Quýnh, Giáo trình lịch sử Việt Nam ( NXB giáo dục). 7. Lê Đức Bảo, Tuyển tập 36 đề ôn luyện thi môn lịch sử (NXB Sư phạm). 8. Nguyễn Thành Nhân, Hướng dẫn giải bài tập từ các đề thi quốc gia môn lịch sử của Bộ GD và ĐT (NXB ĐH Quốc gia HN). 9. Đoàn Quân Trang và Bùi Thu Vân, Tuyển tập 39 đề thi thử đại học môn lịch sử (NXB HN). 10. Phạm Xanh, Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (NXB ĐH Quốc gia HN). 11. Trần Văn Thắng, Luyện tập và tự kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng lớp 10; 11; 12, Nxb Giáo dục, 2010. 12. Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh, Ôn luyện trắc nghiệm thi trung học phổ thông quốc gia- khoa học xã hội. NXB Đại học Sư phạm.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_dat_ket.doc

