Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lịch sử 12 GDTX)
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ XX. Trong cuộc cải cách giáo dục lần 2, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước.
Cho đến nay trong lí luận cũng như thực tiễn, không ai phủ nhận vai trò to lớn của người học, bởi suy cho cùng kết quả thu lượm kiến thức khoa học của học sinh càng cao bao nhiêu, càng bền vững bao nhiêu thì chất lượng dạy học tốt bấy nhiêu. Song thực tế cho thấy việc dạy học ở trường phổ thông vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại, chất lượng dạy học còn thấp, việc dạy học theo cách thức truyền thống còn phổ biến, hiện tượng “thầy đọc, trò chép”, nhồi nhét kiến thức vẫn còn tồn tại nhiều nơi.
Mặc dù phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng đã được chú trọng đổi mới, cải tiến nhiều, tuy nhiên nhìn chung phương pháp dạy học lịch sử vẫn chưa theo kịp các cải tiến về nội dung, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo. Có thể nói phương pháp dạy học lịch sử còn có phần bảo thủ, thực dụng. Sự lạc hậu về phương pháp dạy học là một trong những trở ngại của việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do giáo viên chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc vai trò, vị trí của phương pháp dạy học, chưa tiếp nhận những cơ sở khoa học, lí luận về phương pháp dạy học mà còn tiến hành giảng dạy theo kinh nghiệm chủ nghĩa, đặc biệt chưa chú trọng phát huy tính tích cực của học sinh.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lịch sử 12 GDTX)
ội La Văn Cầu cùng xung phong mở đường cho xung kích tiến lên. Mũi nhọn do Trần Cừ chỉ huy tiến lên mở hàng rào nhưng bị đại bác của địch chặn đứng mọi đợt xung phong. Bốn chiến sĩ xông lên đều bị thương vong, cả mũi nhọn nằm ùn lại phía trước mũi súng của kẻ thù. Súng vừa ngớt thì một toán địch từ hầm ngầm xông ra phản kích, Trần Cừ bị trúng đạn vào ngực trong khi lô cốt địch vẫn không ngừng nhả đạn. Trời đã sáng rõ, xung kích vẫn chưa lọt vào được, mọi người đều lo lắng. Lúc này, Trần Cừ cố lê người sát lô cốt, anh lại bị thương lần nữa song vẫn cố nhoài người lên rồi gục xuống và lấy hết sức dùng thân mình bịt lỗ chấu mai địch. Hỏa lực của địch ngừng lại và xung kích liên tiếp xông lên. Lời hô: “noi gương Trần Cừ, trả thù cho Trần Cừ” vang lên, các chiến sĩ như nước vỡ bờ, các tổ 3 người tràn vào, nhanh chóng tiêu diệt lô cốt. 7 giờ sáng hôm sau, quân địch trong chiến hầm cố thủ cuối cùng vẫn ngoan cố chống cự. Một quả bộc phá đánh sập chiếc hầm ngầm vững chắc đó, những tên chỉ huy run sợ chui ra hàng. Sau hơn 2 ngày đêm chiến đấu dũng cảm quân ta đã hoàn toàn giành thắng lợi ở trân Đông Khê. Đến đây, giáo viên hỏi học sinh: “Chiến thắng Đông Khê có ý nghĩa như thế nào?” Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt lại: Chiến thắng Đông Khê chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo quân sự tài tình của Đảng, đánh dấu bước tiến mới về trình độ đánh công kiên của bộ đội ta, cổ vũ khí thế lập công trên khắp mặt trân, thể hiện tinh thần dũng cảm trong chiến đấu của thế hệ trẻ Việt Nam. Tướng Aliuc chỉ huy đồn Đông Khê đã phải thốt lên: “ chúng tối chưa bao giờ gặp phải một đối phương dũng cảm như vậy, thật là kì diệu.” Đúng như dự định của ta về kế hoạch “điệu hổ li sơn”, Đông Khê bị tiêu diệt, hệ thống phòng ngự trên đường số 4 như một con rắn bị gãy khúc. Địch núng thế tìm cách rút khỏi Cao Bằng song muốn rút phải tiếp viện. Ngày 30.9.1950, binh đoàn Lơpagiơ từ Thất Khê lên yểm hộ cho quân từ Cao Bằng về. Ngày 3.10.1950, binh đoàn Sác tông rút khỏi Cao Bằng. Đoán trước ý định của địch, ta bố tri quân kiên nhẫn chờ chúng đến tiêu diệt. Địch rất thận trọng tránh dường quốc lộ, đi tắt đường rừng song chúng vẫn lọt vào trận địa của ta. Quân ta chặn đánh địch, chia cắt chúng, khiến cho 2 cánh quân này không liên lạc được với nhau. Sau 10 ngày chiến đấu, đại bộ phận lực lượng của địch từ Cao Bằng về và từ Thất Khê lên đều bị tiêu diệt. Bọn còn lại chạy vào rừng cũng bị truy kích. Sác tông và Lơpagiơ không gặp được nhau để tiếp ứng nhau, mà lại gặp nhhau trên đường vào nhà giam của ta. Thất bại nặng nề, địch vội và rút luôn các cứ điểm còn lại trên đường số 4. Ngày 22.10.1950, chiến dịch Biên giới kết thúc hoàn toàn tháng lợi. Đến đây giáo viên có thể hỏi học sinh: “Em hãy so sánh cách đánh trong chiến dịch Biên giới với chiến dịch Việt Bắc?” Giáo viên để học sinh phát biểu, sau đó nêu các đặc điểm chính và khẳng định sự lớn mạnh của quân đội ta sau chiến dịch. - Sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả, phân tích, đàm thoại. Tranh ảnh tạo được biểu tượng, góp phần cụ thể hoá kiến thức, có tác dụng làm cho học sinh yêu thích môn lịch sử. Do đó, để sử dụng tranh ảnh lịch sử có hiệu quả, phát huy được tính tích cực hoạt động của học sinh cần kết hợp với miêu tả có phân tích, đàm thoại. Ví dụ với bức ảnh hình 52 “Các đại biểu dự Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt (1951)” Bài 19 “Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)”, bức ảnh này được sử dụng khi dạy mục III “Hậu phương kháng chiến phát triển về mọi mặt” để cụ thể hóa sự kiện thống nhất mặt trận Việt Minh và hội Liên Việt. Trước hết giáo viên giới thiệu về bức ảnh ghi lại hình ảnh các đại biểu tham dự đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt rồi hướng dẫn học sinh quan sát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Giáo viên đưa ra câu hỏi gợi mở để học sinh trả lời: - Quan sát trang phục, nét mặt của những người trong ảnh, chúng ta thấy thành phần tham dự đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt như thế nào? Học sinh trao đổi đàm thoại qua những câu gợi mở, quá trình đó sẽ giúp các em có biểu tượng ban đầu về các thành phần tham gia. Sau đó giáo viên miêu tả khái quát: Trong ảnh là quang cảnh ở bên ngoài hội trường. Ở trên cửa ra vào hội trường có gắn tấm biển đề hàng chữ “Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt”, có 29 đại biểu chụp ảnh kỉ niệm. Quan sát bức ảnh ta thấy rõ các đại biểu tham dự gồm đủ mọi giới: phụ nữ, nam giới, người già, người trẻ, có cả những người theo tôn giáo (phía trái bức ảnh), những người dân tộc thiểu số (bên phải bức ảnh) Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ngồi giữa. Giáo viên tiếp tục gợi mở “Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi ở giữa nói lên điều gì?”. Điều đó nói lên Bác và Đảng là trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc, tổ chức lãnh đạo khối đại đoàn kết. Cuối cùng giáo viên đưa ra câu hỏi: “Qua đó em có suy nghĩ gì về mục đích tổ chức mặt trận của Đảng?”. Mặt trận Liên Việt là mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết tất cả các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, các cá nhân yêu nước nhằm thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân để kháng chiến, kiến quốc thắng lợi. Tuyên ngôn của đại hội ghi rõ mục đích của Mặt trận Liên Việt là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mĩ, trừng trị Việt gian phản quốc, thực hiện một nước Việt Nam độc lập, thống nhất dân chủ, tự do, phú cường và góp sức vào bảo vệ nền hoà bình dân chủ thế giới. Tóm lại việc sử dụng đồ dùng trực quan cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới không chỉ làm cho kiến thức học sinh tiếp thu trở nên sâu sắc mà còn giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn và phát triển kĩ năng quan sát, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử của các em. 3.2. Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức học sinh củng cố kiến thức. Sử dụng đồ dùng trực quan trong củng cố kiến thức đã học cho học sinh mang lại nhiều hiệu quả hơn so với việc củng cố kiến thức bằng trao đổi đàm thoại, nêu và trả lời câu hỏi đơn thuần. Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong củng cố kiến thức gây được hứng thú học tập, giúp các em khắc sâu kiến thức. - Đối với lược đồ - bản đồ, để củng cố kiến thức cho học sinh giáo viên có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau: + Dựa vào bản đồ để nêu và trả lời các câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát kĩ hơn và nêu lên các điểm mới. + Dựa vào bản đồ để trình bày lại những kiến thức đã học một cách phong phú, cụ thể, sinh động hơn hoặc sử dụng bản đồ nhưng dưới dạng bản đồ “câm”, yêu cầu học sinh điền đầy đủ các kí hiệu rồi dựa vào đó để trình bày lại các vấn đề đã học. Ví dụ, giáo viên sử dụng bản đồ “Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950” treo lên bảng, yêu cầu học sinh dựa vào bản đồ để trình bày lại diễn biến của chiến dịch. Trong khi học sinh trình bày, giáo viên yêu cầu học sinh cả lớp chú ý theo dõi để nhận xét và bổ sung cho phần trình bày của bạn. Giáo viên cũng có thể sử dụng bản đồ trên nhưng dưới dạng bản đồ “câm”, yêu cầu học sinh điền các kí hiệu lên bản đồ cho đầy đủ rồi dựa vào bản đồ để trình bày lại diễn biến chính của chiến dịch. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên có thể nhận xét, cho điểm hoặc khen trước lớp. Hoặc cũng có thể ra bài tập về nhà cho học sinh (sau khi dạy xong bài 18): “Vẽ bản đồ khu vực Bắc bộ, điền những kí hiệu phù hợp vào các địa danh diễn ra chiến dịch Biên giới thu – đông 1950. Qua đó rút ra ý nghĩa chiến dịch?” - Đối với việc sử dụng tranh ảnh lịch sử để củng cố kiến thức đã học là một việc làm tương đối khó, do vậy giáo viên nên kết hợp với hệ thống câu hỏi. Qua đó giúp các em nắm vững chắc, hiểu sâu, nhớ lâu hơn những kiến thức đã học, đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, miêu tả, phân tích và rút ra kết luận lịch sử cho học sinh. Ví dụ, để củng cố kiến thức của các em về Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương khi dạy bài 20, giáo viên có thể sử dụng bức ảnh “Quang cảnh Hội nghị Giơnevơ”. Giáo viên cho học sinh quan sát một lần nữa bức ảnh và học sinh dựa vào kiến thức đã học trả lời các câu hỏi của giáo viên: + Qua quan sát em thấy Hội nghị được tổ chức như thế nào? + Hội nghị Giơnevơ đang thảo luận vấn đề gì? + Em có nhận xét gì về Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương? Bài tập về nhà thường được nêu vào cuối giờ học. Bài tập cần hướng vào những vấn đề quan trọng của nội dung bài học. Bài tập sẽ giúp các em hiểu rõ những vấn đề, những sự kiện cơ bản của bài học. Bài tập về nhà chỉ có hiệu quả tối đa khi giáo viên tiếp tục bồi dưỡng, củng cố kiến thức mà học sinh đã học, tiếp tục hoàn thiện nhiệm vụ giáo dục và phát triển cho các em. - Giáo viên có thể sử dụng các sơ đồ, niên biểu, bảng biểu để ra bài tập về nhà, củng cố kiến thức cho học sinh. Ví dụ khi dạy bài 20, giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà xây dựng niên biểu các sự kiện lớn của ta từ sau thu – đông 1950 đến khi kết thúc kháng chiến: Thời gian Quân sự Chính trị - ngoại giao Kinh tế Văn hoá – giáo dục 1951 - Chiến dịch Trung du - Chiến dịch Hoàng Hoa Thám. - Chiến dịch Quang Trung. - Chiến dịch Hoà Bình - Đại hội đại biểu toàn quốc lần II của Đảng. -Hợp nhất Mặt trận Việt Minh – Liên Việt. - Khối liên minh Việt – Miên – Lào được thành lập. - Uy tín quốc tế của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Ban hành sắc lệnh về thuế nông nghiệp. - Thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam. - Giáo dục phát triển, bình dân học vụ và bổ túc văn hoá phát triển. - Cuộc vận động vệ sinh phòng bệnh thực hiện đời sống mới lan rộng. 1952 Chiến dịch Tây Bắc Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I. Vận động sản xuất và tiết kiệm 1953 - 1954 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ. -Triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, cải cách ruộng đất. - Công nghiệp quốc phòng được đẩy mạnh. 3.3. Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Có nhiều cách để tiến hành kiểm tra, đánh giá trong đó việc sử dụng đồ dùng trực quan là một biện pháp đạt hiệu quả cao. Việc kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan trong kiểm tra đánh giá có thể tiến hành trong nhiều trường hợp như kiểm tra bài cũ, kiểm tra viết (15 phút, 45 phút) khi kiểm tra chất lượng học sinh đầu kì, giữa kì, cuối kì hoặc bài kiểm tra theo phân phối chương trình. - Kết hợp câu hỏi tự luận với sử dụng lược đồ để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc sử dụng đồ dùng trực quan là một phương thức tốt nhất để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh vì nó khuyến khích học sinh cách học thông minh, sáng tạo chứ không phải ghi nhớ máy móc những điều đã học từ phía giáo viên hay những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa. Ví dụ, khi kiểm tra mức độ tự học ở nhà của học sinh, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh suy nghĩ, nhận xét, đánh giá “Qua quan sát lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ em hãy nhận xét về các hướng tiến công của quân ta?” Câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải khôi phục trí nhớ, tiến hành phân tích để rút ra kết luận về cuộc tiến công của quân ta trong chiến dịch Điên Biên Phủ và ý nghĩa to lớn của chiến dịch đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi kiểm tra nhận thức của học sinh sau khi tiếp thu kiến thức mới, giáo viên có thể đưa câu hỏi tự luận ngắn kết hợp với sử dụng kênh hình. Ví như: Khi dạy bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)” giáo viên sử dụng lược đồ hình 54 “Diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)” kết hợp với câu hỏi tự luận “Qua quan sát các hướng tiến công của quân ta, em hãy lí giải tại sao chiến dịch Điện Biên Phủ lại giành thắng lợi to lớn?” Để trả lời câu hỏi này, học sinh phải tiến hành quan sát lược đồ, kết hợp với vận dụng tri giác, nhớ lại kiến thức đã học, đồng thời tiến hành phân tích, đánh giá nhằm đưa ra kết luận cần thiết quá trình kiểm tra sẽ giúp học sinh nắm chắc kiến thức đã học, tích cực học tập và hoàn thiện được nhiệm vụ giáo đưỡng, giáo dục và phát triển học sinh. Việc sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy học lịch sử là một công việc quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử. Có nhiều biện pháp để sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh phát huy tính tích cực trong học tập. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần căn cứ vào nội dung bài học, đặc điểm đồ dùng trực quan để có biện pháp sử dụng thích hợp. Các biện pháp và hình thức tổ chức để thực hiện việc dạy và học tích cực môn lịch sử rất đa dạng. Hơn ai hết, người giáo viên trực tiếp giảng dạy mới hiểu rõ nhất những đặc điểm cụ thể trên, mới lựa chọn được một phương án sư phạm thích hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất cho sự phát triển nhân cách học sinh. C.KẾT LUẬN Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có vị trí, chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Nhưng hiện nay học sinh lại chưa chú trọng học môn này. Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân gây nên. Nhưng phải thừa nhận một nguyên nhân rất quan trọng là do kết quả, chất lượng giảng dạy của chính những giáo viên dạy lịch sử hiện nay, đặc biệt là việc duy trì kiểu dạy truyền thống “thầy đọc, trò chép”, nhồi nhét kiến thức, học sinh thụ động trong tiếp thu kiến thức. Từ đó có thể thấy việc xây dựng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh qua những giờ học lịch sử rõ ràng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cũng hết sức nặng nề của người giáo viên dạy môn lịch sử. Học tập của học sinh là một quá trình nhận thức, vì vậy nói đến tính tích cực học tập là nói đến tính tích cực của sự nhận thức. Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Để giúp học sinh phát huy tính tích cực trong quá trình học tập môn lịch sử ở trường GDTX đòi hỏi giáo viên phải sử dụng nhiều biện pháp sư phạm.. Tuy nhiên trong dạy học lịch sử không có biện pháp nào là vạn năng để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập của các em. Việc sử dụng các biện pháp sư phạm nói trên chỉ thực sự đem lại hiệu quả giáo dục khi được giáo viên sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo, tuỳ mục đích của bài và khả năng nhận thức của các em. Sau một thời gian vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm 1954, bản thân tôi đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy học theo hướng đổi mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích môn học này hơn. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình giảng dạy môn lịch sử ở trường GDTX, hiểu biết và kinh nghiệm chắc chắn không tránh những sai xót, rất mong được sự góp ý trân thành của các đồng nghiệp. XÁC NHẬN CỦA GIÁM ĐỐC Thanh Hóa, ngày 01 tháng 5 năm 2016 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết sáng kiến Đặng Thị Thu Hằng
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nham_phat_huy_tinh_ti.doc
bia.doc
muc_luc.doc

