Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1

Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường trong những năm trước:

Thứ nhất, về thời gian bồi dưỡng: Thời gian bồi dưỡng cho đội tuyển còn ít, chỉ tập trung giảng dạy trong thời gian các em học lớp 12, trong khi đó lượng kiến thức rất rộng, nên các em không có đử thời gian để học và thời gian để ôn luyện các kĩ năng, thời gian để làm các dạng đề.

Thứ hai, về thành lập đội tuyển: Việc thành lập đội tuyển đối với môn Lịch sử gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân một phần vì nhà trường từ nhiều năm nay không có học sinh học khối C (Văn – Sử – Địa) nên không có nguồn cho đội tuyển. Phần khác là do tâm lý cả học sinh và phụ huynh đều cho rằng đây là môn phụ nên không có ý thức đầu tư nhiều về thời gian. Thực tế nhiều năm trường đã phải thành lập đội tuyển Lịch sử với thành phần chủ yếu là học sinh theo khối A (Toán – Lý – Hóa) và khối D (Văn – Toán – Ngoại ngữ). Vì vậy, ngay cả khi đã có đội tuyển, bản thân các em cũng chưa tập trung, chưa quyết tâm cao cho học đội tuyển, vẫn mang tâm lý lo cho môn học để thi vào đại học hơn. Mặt khác, phụ huynh cũng không muốn cho con tham gia thi học sinh giỏi môn Lịch sử, sợ ảnh hưởng đến việc học các môn thi vào đại học của con mình.

doc 19 trang SKKN Lịch Sử 05/11/2025 230
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1

Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1
bài tập so sánh. 
	Đây là dạng đề thi nâng cao kiến thức tổng hợp của học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh làm quen với dạng đề thi này vì trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, dạng đề thi này thường được sử dụng để thi. Vì nó đòi hỏi học sinh ngoài việc nắm kiến thức cơ bản ra cần phải hiểu vấn đề mới có thể giải quyết được.
Bài tập : Lập bảng so sánh những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh? Chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong hoạt động cứu nước của hai ông. 
Hướng dẫn giải: Giáo viên phải giúp học sinh hướng giải quyết dạng bài tập này: chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hoạt động của hai ông có những điểm tích cưc, đóng góp nào, có hạn chế nào. Từ hạn chế đó để lại bài học gì cho cách mạng Việt Nam. 
Dạng 3: Đánh giá sự kiện lịch sử. 
Đối với dạng bài này học sinh phải nêu lên quan điểm nhìn nhận, đánh giá, thể hiện sự hiểu biết của mình về các nội dung, sự kiện, nhân vật lịch sửĐể giải quyết dạng bài này, trong quá trình dạy học giáo viên cần giảng cho học sinh hiểu được bản chất của vấn đề kết hợp với đưa ra ví dụ cụ thể để học sinh được thực hành và nắm vững kiến thức hơn. Vì vậy khi gặp dạng đề này ở bất cứ phần nào của lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới học sinh cũng biết vận dụng và giải quyết dễ dàng.
	Ví dụ minh họa: Cách mạng tháng Tám năm 1945 có phải là một cuộc cách mạng bạo lực?
	Đây là dạng bài tập khó vì vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn. Học sinh sẽ gặp khó khăn trong dạng câu hỏi này bởi vì chưa biết căn cứ vào đâu để đánh giá được sự kiện là cách mạng tháng Tám. Cuộc cách mạng này diễn ra chủ yếu bằng lực lượng chính trị của quấn chúng là chủ yếu với phương pháp đấu tranh hòa bình. Vậy thì tính bạo lực nó được thể hiện như thế nào. Để giúp học sinh hiểu được và giải quyết được câu hỏi này giáo viên phải giải thích cho học sinh biết và hiểu được quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và của Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, chỉ ra cho học sinh thấy cuộc cách mạng tháng Tám đã giải quyết được yêu cầu của một cuộc cách mạng bằng việc sử dụng kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang để giàng chính quyền cách mạng và kết thúc là sự ra đời của nươc Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945.
	Dạng 4: Các bài tập vận dụng kiến thức để giải thích, chứng minh. 
	Đây là dạng bài khó đối với học sinh. Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên cần hướng dẫn học sinh thấy được bản chất quá trình phát triển của lịch sử, các nội dung lịch sử, sự kiện không tự nhiên xuất hiện mà có quá trình vận động. Nội dung trước làm tiền đề cho sự xuất hiện của nội dung sau và đến lượt mình nội dung sau lại tác động để dẫn đến tiến trình lịch sử về sau.
	Ví dụ: Tại sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử?
	Hướng dẫn giải: đối với bài này giáo viên cần chỉ cho học sinh thấy được sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dẫn đến các phòng trào yêu nước, cách mạng đều thất bại, chỉ ra được với việc Đảng ra đời đã chấm dựt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước: chủ nghĩa Mác – Lê nin, giai cấp lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân, chỉ ra được đây là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng Việt Nam: cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, công cuộc đổi mới.
	Như vậy, khi gặp các dạng bài tập trên giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất của sự kiện, nội dung lich sử, điều quan trọng là bồi dưỡng cho các em năng lực tư duy, so sánh, nhận định, đánh giá một sự kiện, một vấn đề hay một giai đoạn lịch sử.
Thứ tư: Rèn kỹ năng làm bài trắc nghiệm.
Trong những năm gần đây, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh gồm có hai phần là trắc nghiệm chiếm 70% và tự luận chiếm 30%. Như vậy phần trắc nghiệm sẽ quyết định rất lớn đến kết quả cuối cùng của bài thi. 
Để giúp học sinh có thể làm tốt phần trắc nghiệm trong đề thi, trong quá trình bồi dưỡng giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài hay từng chuyên đề. Học phần kiến thức nền đến đâu cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm tương ứng để học sinh vận dụng được kiến thức vừa học và khắc sâu kiến thức. Mặt khác giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm với nhiều dạng khác nhau như dạng câu hỏi so sánh, dạng câu hỏi rút ra bài học kinh nghiệm, dạng câu hỏi chỉ ra điểm chung nhất của các nội dung lịch sử, dạng câu hỏi chỉ ra bản chất của nội dung lịch sử mỗi một dạng câu hỏi như vậy giáo viến cần hình thành cho học sinh những kỹ năng nhất định để trả lời các câu hỏi như vậy. Ngoài ra, giáo viên yêu cầu học sinh tải các add lịch sử về smartphone cho hệ điều hành Android hoặc ios. Trong các add này có hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phong phú, được chia ra thành từng mức độ: nhận biêt, thông hiểu, vận dụng. Học sinh tự ôn luyện và vận dung kỹ năng để làm. Trong quá trình thực hiện nếu có câu hỏi khó không làm được thì sẽ trao đổi trong nhóm và với giáo viên.
Ví dụ minh họa 1: dạng câu hỏi so sánh.
Câu hỏi: Điểm khác biệt cơ bản trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu so với Phan Châu Trinh ở Việt Nam đầu thế kỉ XX là
A. công tác tuyên truyền, tập hợp lực lượng.	B. khuynh hướng cứu nước
C. hệ tư tưởng.	 D. xu hướng cứu nước.
Để trả lời câu hỏi này giáo viên hướng học sinh đến những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, giúp học sinh nhận thấy trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu dùng bạo lực để giàng lại độc lập còn Phân Châu Trinh ông chủ trương thực hiện các cải cách, mở mang dân trí và xem đó là điều kiện để giải phóng dân tộc. Từ sự phân tích đó chọn được phương án trả lời là D: xu hướng cứu nước.
Ví dụ 2: Dạng câu hỏi rút ra bài học kinh nghiệm.
Câu hỏi: Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm gì từ sự phát triển kinh tế của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
A. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với mở cửa, hội nhập khu vực, quốc tế
B. đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, thay thế hàng nhập khẩu.
C. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
D. tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển ngoại thương.
Với dạng câu hỏi này giáo viên hướng học sinh đến nội dung của hai chiến lược phát triển đất nước của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN sau Chiến tranh thế giới thứ hai là Chiến lược kinh tế hướng nội và đặc biệt là Chiến lược kinh tế hướng ngoại. Hiểu rõ bản chất của hai chiến lược và đóng góp của hai chiến lược này đối với sự phát triển đất nước của 5 nước này, sự phù hợp của chiến lược kinh tế hướng ngoại với sự phát triển chung trong xu thế phát triển chung của thế giới tiến tới xu thế toàn cầu hóa sau này. Từ đó chọn lựa phương án trả lời là A. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với mở cửa, hội nhập khu vực, quốc tế.
Ngoài ra khi làm bài trắc nghiệm giáo viên cần hình thành cho học sinh những kỹ năng cần thiết.
Thứ nhất: Đầu tiên học sinh nên đọc hết qua tất cả các câu hỏi và đáp án của đề thi, sau đó phân tích và xử lý nhanh những yêu cầu của đề. Khi trả lời, câu hỏi nào dễ nên làm trước, khó sẽ làm sau, không cần làm theo thứ tự đề bài đưa ra. Chỉ có 90 phút để làm 40 câu hỏi trong bài thi, học sinh không nên để mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi nào đó, vì thời gian trung bình mỗi câu chỉ hơn 2 phút. Cần tranh thủ thời gian giải quyết phần trắc nghiệm nhanh nhất có thể để tận dụng thời gian làm phần tự luận. Kết quả bài thi là sự kết hợp tốt cả hai phần trắc nghiệm và tự luận.
Thứ hai: Khi làm bài thi, học sinh hãy đọc kỹ yêu cầu của đề, tìm ra "từ khóa" chính, nếu cần thiết thì có thể dùng bút chì khoanh tròn "từ khóa". Đây là cách dễ dàng nhất giúp học sinh có thể chọn được đáp án chính xác và nhanh nhất, không sợ lạc đề hay nhầm kiến thức.
Thứ ba: Thời gian làm bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử chỉ có 90 phút với 40 câu hỏi nên cần tính toán khả năng từ "chậm và chắc" sang "chậm" thành "nhanh". Cần lưu ý, đọc kỹ, suy nghĩ kỹ câu hỏi và phương án trả lời không có nghĩa là chần chừ, do dự.
Thứ tư: Khi xem một câu hỏi, nếu không xác định chính xác câu trả lời thì thay vì đoán mò hoặc khoanh bừa thì hãy dùng phương pháp loại trừ. Dùng phương pháp loại trừ là cách tốt nhất để chọn được đáp án chính xác. Hơn nữa, thay vì đi tìm đáp án đúng, học sinh có thể thử tìm phương án sai cũng là một cách hay và loại trừ càng nhiều phương án càng tốt.
	Thứ năm: Giáo viên cho học sinh cọ sát thực tế bằng cách tiếp cận nhiều đề thi thử và hướng dẫn học sinh cách làm một bài thi.
	Thứ năm: Rèn kỹ năng làm bài thi hoàn chỉnh.
	Học sinh giỏi có kiến thức và kĩ năng làm bài là điều cần thiết trong quá trình làm bài thi. Nhưng điều đó chưa đủ để đảm bảo bài thi đạt kết quả cao, mà điều quan trọng là học sinh phải hiểu đề, nắm được yêu cầu của đề ra và cách làm một bài thi.
	Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, giáo viên cho học sinh tiếp cận nhiều đề thi, giáo viên có thể ra đề cho học sinh luyện, quan trọng hơn là cho học sinh được thực hành cọ sát đề thi học sinh giỏi các năm trước của tỉnh Bắc Giang và của các tỉnh.
	Giáo viên có thể dành một số buổi học ra đề bài tương đương một đề học sinh giỏi để các em trong đội tuyển làm với thời gian là 120 phút. Bởi vì đây là cơ sở để giáo viên nắm bắt khả năng thực sự của học sinh trên nhiều phương diện, từ cách hiểu đề, xác định yêu cầu của đề, tìm ý đến cách viết, phân bố thời gian làm bài, kĩ năng giải quyết nhanh nhất phần trắc nghiệm để giành một phần thời gian lamg bài trắc nghiệm cho việc làm tự luận, đảm bảo cân đối, hoàn chỉnh của toàn bài thi. Tất cả đều được thể hiện trong bài thi của học sinh. Gần đến thời gian thi có thể cho học sinh thi thử đúng với thời gian thi chính thức để các em làm quen với khung thời gian thi, suy nghỉ, tư duy giải quyết tình huống trong phòng thi.
	Giáo viên ra đề cho học sinh làm ở trên lớp, với thời gian học sinh làm bài là 120 phút. Sau đó giáo viên sẽ chấm bài và chữa lỗi thật kĩ, nhận xét đầy đủ và thấu đáo bài làm của học sinh từ góc độ ý có đầy đủ, phong phú hay nghèo nàn hoặc thiếu ý đến cách diễn đạt bằng ngôn từ chính xác chưa. Giáo viên nhận xét cụ thể từ ưu điểm đến khuyết điểm của mỗi bài để các em phát huy mặt mạnh và khắc phục hạn chế đó trong các bài luyện thi tiếp theo. Tuy nhiên thời gian ở lớp không nhiều, nên giáo viên không thể cho học sinh luyện tập được nhiều đề khi bồi dưỡng trên lớp vì mất thời gian. Điều đó có thể khắc phục được là cho học sinh luyện tập ở nhà và tự ấn định về thời gian. Đây là một việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi. Nó giúp cho các em thấy được điểm mạnh, mặt yếu của mình từ đó mà khắc phục và phát huy.
Kết quả đạt được: 
Bản thân tôi tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trong các năm học 2013 – 2014, 2014 – 2015. Trong các năm học 2016 – 2017, 2019 – 2020, 2020 - 2021 tôi phụ trách chính đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của trường THTP Lạng Giang số 1. Từ những kết quả trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử những năm gần đây của nhà trường tôi nhận thấy kết quả này còn thấp, chưa tương xứng với vị thế, kỳ vọng của nhà trường nên trong năm học 2019 – 2020 khi nhận trách nhiệm phụ trách đội tuyển học sinh giỏi tôi đã tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm bản thân và các đồng nghiệp để xây dựng sáng kiến trên, áp dụng sáng kiến trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của mình trong năm học 2019 – 2020, tiệp tục được bổ sung, điều chỉnh để áp dụng cho năm học 2020 - 2021. Tôi nhận thấy đã có sự chuyển biến tích cực trong số giải đạt được và chất lượng các giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2020 – 2021.
Bảng thống kê kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử
Trường THPT Lạng Giang số 1
Năm học
Giải nhất
Giải nhì
Giải ba
Giải khuyến khích
Ghi chú
2018-2019
0
0
0
1

2019 - 2020
0
0
2
1

2020 - 2021
0
03
0
0


Ngoài ra, các giải pháp trên cũng được tôi áp dụng một phần trong giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Lạng Giang số 1. Lớp được áp dụng là lớp 12A14. Đây là lớp cuối của lớp khối D, chất lượng học sinh cũng chưa cao, nhưng khi áp dụng học sinh có tinh thần học tập, cố gắng tự học, hình thành khả năng tư duy, nhận biết các dạng câu hỏi, bài tập. Vì vậy kết quả đạt được đáng khích lệ.
Bảng thống kê kết quả học tập lớp 12A14 (Học kì 1)
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu - kém
Ghi chú
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%

47
19
40,4
24
51,1
4
8,5
0
0


Với sự chuyển biến tích cực trên tôi mong muốn sáng kiến của mình sẽ được tiếp tục áp dụng trong các năm học tiếp theo để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử cũng như trong công tác ôn tập cho học sinh chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT.
Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến
	Những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi được tôi áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong năm học 2019 – 2020. Năm học 2020 – 2021 tôi tiếp tục áp dụng, có những bổ sung, điều chỉnh giải pháp trong quá trình thực hiện và áp dụng thí điểm trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử tại lớp 12A14. Với kết quả bước đầu đáng kích lệ, tôi mong muốn các giải pháp trong sáng kiến sẽ được áp dụng trong giảng dạy môn lịch sử tại trường THPT Lạng Giang số 1 trong các năm học tiếp theo.
Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 
	Sau khi áp dung các giải pháp trên trong công tác giảng dạy môn Lịch sử nói chung và đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng tôi nhận thấy đã mang lại hiệu quả như sau:
Sáng kiến thực hiện không tốn kém về mặt kinh tế mà còn được vận dụng tốt cho quá trình dạy học Lịch sử nói chung và công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng.
Sáng kiến cung cấp cho giáo viên có tâm huyết với bộ môn Lịch sử hướng đi và cách thức thực hiện việc bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả.
Học sinh hứng thú học tập môn lịch sử, học sinh có năng khiếu đăng ký vào đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của trường ngày càng nhiều. Chất lượng giảng dạy cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi không ngừng được nâng cao.
Cam kết: Tôi cam đoan những điều trình bày trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Xác nhận của cơ quan, đơn vị
(Chữ ký, dấu)
Tác giả sáng kiến
(Chữ ký và họ tên)
Phạm Hùng Tráng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Lịch sử lớp 12, Nhà xuất bản Giáo dục.
[2] Trương Ngọc Thơi, Luyện Thị đại học, cao đẳng và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hướng dẫn nội dung thi chọn học sinh giỏi quốc gia. 
[4] Nguyễn Văn Ninh – Nguyễn Thị Thế Bình (2019), Bí quyết chinh phục điểm cao kì thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
[5] Dương Thị Huyền(2020), Ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch sử - Bài tập so sánh, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên.
[6] Nguyễn Mạnh Hưởng(2020), 50 đề thi chọn lọc chinh phục điểm cao kì thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
[7] Phan Ngọc Liên(2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_b.doc