Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn Lịch sử ở trường THPT Hoằng Hóa

Kết quả học tập bộ môn lịch sử THPT hiện nay thấp, điều đó đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cấn quan tâm giải quyết, nhất là những người trực tiếp làm công tác giảng dạy . Thực tế cho thấy, ít có học sinh hứng thú với tất cả các bộ môn mà thường chỉ say mê một số môn. Kinh nghiệm cũng cho thấy không nên đánh giá cao biểu hiện hứng thú học tập và năng khiếu của các em để kết luận thích môn này hay môn kia, nhất là trong việc tổ chức thi cử còn chưa thật sự hoàn hảo, chập chờn giữa học và thi, quan niệm về vị trí của từng bộ môn còn có chỗ lệch lạc, động cơ học tập chưa đúng, thì việc tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình giảng dạy có vị trí , ý nghĩa hết sức quan trọng để giúp các em có động cơ học tập đúng đắn. Thiết nghĩ cũng cần nhắc lại rằng : Học sinh không thích học lịch sử, không phải do môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và phương pháp dạy học của chúng ta chưa thật sự phù hợp. Bởi Lịch sử là nguồn cảm hứng mạnh mẽ đối với mọi người, vì qua lịch sử mà ta nhận thấy được gương mặt của quá khứ, hình ảnh của hiện tại và bước phát triển của tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà F.Enghen - người bạn cảm động và hết sức vĩ đại của Các Mác - đã khẳng định: “Đối với chúng ta, lịch sử là tất cả, lịch sử được chúng ta đánh giá cao hơn bất cứ cái gì khác…” ( Các Mác, F.Enghen toàn tập, tập I).
doc 20 trang SKKN Lịch Sử 05/11/2025 200
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn Lịch sử ở trường THPT Hoằng Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn Lịch sử ở trường THPT Hoằng Hóa

Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn Lịch sử ở trường THPT Hoằng Hóa
yên nghiên cứu, tham khảo thêm nhiều nguồn tư liệu mới đưa vào bài giảng để bài học thêm phong phú, sâu sắc, bảo đảm tính cập nhật thông tin hiện đại những kiến thức lịch sử cần truyền thụ cho học sinh.( những thông tin từ nguồn tin cậy, đã được lựa chọn kĩ càng, chứ không mang tính chất tung thông tin, kích thích tính hiếu kì, thỏa mãn trí tò mò, đi vào những tình tiết tầm thường, vụn vặt làm học sinh khó tiếp nhận bài học và lệch trọng tâm mục tiêu đã đề ra)
Có thể kết hợp sử dụng các phương tiện thiết bị, tranh ảnh để giải quyết phần quan trọng và khó khăn này. Bởi kênh hình không những làm cho vấn đề sinh động, hấp dẫn mà còn là nguồn cung cấp thông tin quan trọng. 
b. Giúp học sinh xây dựng phương pháp học tập đúng.
Thời gian 1 tiết trên lớp có hạn, giáo viên không thể chuyển tải hết kiến thức nên không được đưa vào bài giảng. Bởi thế giáo viên phải biết hướng dẫn cho học sinh phương pháp kết hợp: Nghe, nhìn, ghi chép, coi sách, trao đổi và phát biểu ý kiến, không chỉ biết học ở bài giảng mà còn phải biết tự học ở SGK. Không chỉ biết học mà phải biết hỏi, biết thắc mắc, trao đổi không phải chỉ với bạn bè mà với cả thầy cô. Phải tuân thủ nguyên tắc: Chỗ nào giáo viên có thể nói lên được thì giáo viên phải yên lặng”. Tránh tình trạng bắt học sinh nhớ chứ không làm cho học sinh hiểu Có như vậy mới giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra: Tập thể lớp đều được tiếp nhận vốn kiến thức cốt lõi, cơ bản như nhau và theo cùng định hướng, ngoài ra, việc học sinh tích cực chủ động học tập, tập trung nghe giảng, đọc kĩ SGK với bài giảng, cùng các tài liệu khác, giúp các em có điều kiện mở rộng kiến thức và hiểu sâu sắc vấn đề hơn. Điều này dẫn nhanh tới sự phân hóa về trình độ nhận thức của các em, qua đó phát hiện và có biện pháp bồi dưỡng và giúp đỡ kịp thời. Khi học bài, cần có sự đối chiếu giữa tập ghi và SGK, cố gắng tái hiện bài giảng của thầy trên lớp để củng cố kiến thức một cách vững chắc. Có thể giải quyết độc lập các câu hỏi và bài tập do thầy và SGK đưa ra.
3. Sắp xếp lại giàn ý, lựa chọn kiến thức làm nổi bật trọng tâm.
Ví dụ bài 17 “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”
Đây là vấn đề không thể tùy tiện, nhưng xuất phát từ thực tế tình hình, có thể sắp xếp trật tự vấn đề được nêu ra để học sinh dễ tiếp thu hơn.
Dàn ý SGK
I. Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
(Không có phần 1, 2 nhỏ)
II. Bước đầu xây dựng chính quyền Cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính.
1, Xây dựng chính quền Cách mạng.
2, Giải quyết nạn đói 
3, Giải quyết nạn dốt
4, Giải quyết khó khăn về tài chính
III. Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền Cách mạng. 
1, Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam bộ.
2, Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản Cách mạng ở miền Bắc 
3, Hòa hoãn với Pháp nhằm đẩy quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta.
Dàn ý đề xuất
I. Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
1, Thuận lợi
2, Khó khăn
II. Chủ trương, biện pháp giải quyết khó khăn trước mắt.
1, Diệt giặc đói.
2, Diệt giặc dốt.
3, Giải quyết khó khăn về tài chính
4, Củng cố chính quyền Cách mạng 
III/ Đấu tranh với giặc ngoại xâm và nội phản. 
1, Đối với quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai của chúng.
2, Đối với thực dân Pháp 
a/ Thời kì Pháp nổ súng 
b/ Thời kì Pháp ký với Trung Hoa Dân quốc. 
Mục (I), chúng tôi tách thành 2 phần: Thuận lợi và Khó khăn. 
Thuận lợi nêu trước, khó khăn nêu sau, giúp học sinh nhận thấy, Cách mạng thành công, chúng ta đã tiếp thu một di sản mục nát do thực dân – phong kiến để lại, tình hình lúc bấy giờ đặc biệt khó khăn nghiêm trọng, cùng một lúc kẻ thù của độc lập dân tộc tấn công từ nhiều phía, có như vậy học sinh mới thấy hết được năng lực của Đảng và Bác Hồ đạt đến: nghệ thuật lãnh đạo mẫu mực, từ đó mà các em có thái độ tin tưởng triệt để vào tương lai, tiền đồ của đất nước.
Mục (II) Sở dĩ chúng tôi đưa vấn đề giải quyết thứ tự trước sau khác với sách giáo khoa, là vì: Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945 đã nêu lên những nhiệm vụ cấp bách: Chống đói, chống mù chữ, củng cố chính quyền.
Để dạy tốt bài này ngoài việc xắp xếp lại dàn ý như đã nêu chúng tôi còn cho học sinh coi trước những nội dung thuộc về “cơ chế sư phạm”.
- Bài đọc thêm:
+ Lễ ký Hiệp định sơ bộ (ngày 6/3/1946) và phụ khoản đính kèm theo Hiệpđịnh.
+ Thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào Nam bộ trước khi sang Pháp đàm phán.
- Tài liệu tham khảo.
+ Danh sách Chính phủ lâm thời (quốc dân Đại hội Tân trào ngày 16/8/1945)
+ Danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến (quốc hội thông qua ngày 2/3/1946)
- Hình ảnh minh họa.
+ Ảnh nhân dân Nam bộ vót gậy tầm vông đánh Pháp
+ Ảnh Lê Văn Tám làm bó đuốc đốt kho xăng của giặc
+ Ảnh đoàn quân “nam tiến” lên đường vào Nam chiến đấu
+ Ảnh nhân dân Nam bộ quyên góp gạo cứu giúp đồng bào bị đói Bắc bộ (10/1945)
+ Lớp bình dân học vụ.
- Nếu còn thời gian có thể kể một số câu chuyện về giai thoại học bổ túc, về buổi làm việc của Hồ Chủ tịch với đại diện quân Trung Hoa Dân quốc, làm tăng hưng phấn, thích thú cho các em.
4/ Công thức hoá – học sinh dễ nắm nội dung cơ bản của bài, chương.
Ba chiến lược của Mĩ ở miền Nam Việt Nam có thể viết thành công thức, từ đó các em diễn đạt bằng ngôn ngữ hiểu biết của mình, vừa nắm chắc, vừa tránh sự nhầm lẫn.
CTĐB = L2nguỵ + ( cố vấn + vk +ptct + usd) Mĩ.
CTCB = L2 nguỵ + ( cố vấn + lính cđ + quân đồng minh + vk +ptct + usd) Mĩ.
VNHCT = L2 nguỵ + ( cố vấn + lính cđ + quân đồng minh + vk +ptct +usd) Mĩ.
Điểm khác nhau cơ bản của CTCB với CTĐB là có lính chiến đấu ( cđ) Mĩ và quân đồng minh Mĩ tham gia. Bộ mặt xâm lược lộ rõ.Phạm vi chiến tranh ra cả Miền Bắc.
VNH lính nguỵ tăng lên, lính chiến đấu Mĩ và đồng minh Mĩ rút dần, nghĩa là tổng số binh lính trên chiến trường của Mĩ - Nguỵ nhiều hơn các chiến lược chiến tranh trước đó, phạm vi chiến tranh không những ở Việt Nam mà ra cảc Đông Dương.
Với một số biện pháp như kể trên , chúng tôi thấy học sinh có sự chuyển biến hơn trong nhận thức cũng như trong thực hành, kết quả học tập được nâng lên rõ rệt.
Từ chỗ nắm được kiến thức cơ bản từng bài, từng chương thông qua việc học tập trên lớp và tự học ở nhà mà khi ôn luyện kiểm tra, thi cử. Áp lực đối với các em sẽ được giảm bớt. Vì vậy việc ôn luyện, hệ thống lại kiến thức nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó kết quả bài làm được cải thiện. 
5/ Tích hợp một số kiến thức, kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan, chuyện kể, làm cho tiết học sinh động và hấp dẫn hơn.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý, chuyện kể, tranh ảnh phải phù hợp với từng loại bài; chẳng hạn, như loại bài về khởi nghĩa, chiến tranh cách mạng có thể cho học sinh những thông tin sau:
Công dân Hi Lạp cổ đại đã phát biểu khi đất nước có chiến tranh: “ Hỡi những người qua đường! Anh hãy đến và hãy báo tin cho các công dân La – xê – đô – môn rằng: trung thành với những lời dạy của họ, tại đây chúng tôi đã hiến thân mình nhẹ như lông hồng”. Như vậy không cần miêu tả chiến tranh chém giết, khủng khiếp gây xúc động mạnh, mà qua đó thông qua thái độ của người trong chiến trận để thấy lòng yêu nước vô hạn của những người lính khi cần sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc thân yêu của mình, một đất nước mà học sinh nhạy cảm sẽ thấy tuyệt vời ở chỗ: Đất nước họ đã tôn trọng, và bảo vệ quyền tự do của con người - quyền công dân – Một xã hội văn minh đã được hình thành từ buổi bình minh của lịch sử.
Hay thanh niên thành Aten có lời thề trước khi vào quân đội” Tôi sẽ chiến đấu.sẽ không để lại sau lưng mình một Tổ quốc suy nhược mà là một Tổ quốc hùng cường và mạnh mẽ. Và chính bản thân tôi cùng với tất cả mọi người, sẽ tuân thủ mọi luật pháp hiện đang có hiệu lực cũng như mọi luật pháp sẽ có trong tương lai”.
Hoặc khi dạy về chiến tranh thế giới thứ hai, giáo viên có thể đọc cho học sinh một đoạn về sư đoàn 24, được mệnh danh là sư đoàn thép:
Tên: 24; Họ: Thép; Chuyên môn: Bộ binh.
Năn sinh: 1918; Người sinh: Cách mạng tháng Mười.
Nơi sinh: Trên sông Vôn – ga gần Xiêm –biếc – xư – cơ.
Xuất thân: Thợ thuyền và dân cày 2 tỉnh Xiêm –biếc – xư – cơ và Xa – ma – ra.
Học lực : Tốt nghiệp trường đại học nội chiến.
Đã được thưởng những gì? 10 lá cờ đỏ vinh dự của Ban Chấp Hành Trung Ương toàn Nga, 20 lá cờ của Xiêm –biếc – xư – cơ và Xa – ma – ra. Gần 1000 tấm huân chương cờ đỏ của Ủy ban quân sự cách mạng.
Lí do tặng thưởng: vì đã tham gia giải phóng các tỉnh Pơ-van – giơ, Ô – ren – bua, Xiêm –biếc – xư – cơ , Xa – ma – ra và hơn 100 thành phố khỏi tay những kẻ thù của chính quyền Xô Viết.
Ai có thể chứng thưc những lời khai trên đây? Giai cấp vô sản ở Xiêm –biếc – xư – cơ , Xa – ma – ra, Ô – ren – bua và các tên tướng Nga Hoàng Cô – xắc, Đu – tốp, Đê – nhi – kin”.
Mỗi loại bài về kinh tế – xã hội, hay về văn hóa, chúng ta cố gắng đưa một số mẫu chuyện, hình ảnh để làm sinh động thêm bài học. Ví dụ, như khi miêu tả về sự chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ, chung ta đọc cho các em một đoạn trong bài hò kéo pháo, hay :
“ Dốc Pha Đin chị gánh , anh thồ
Đèo Lủng Lô anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan thịt nát
Không sờn lòng không tiếc tuổi xanh”
Học sinh sẽ thấy rất thú vị, nét độc đáo , lãng mạn chiến trường rất Việt Nam!
Hoặc khi miêu tả về sự chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ta có thể cho các em thấy khí thế hào hùng của cả một dân tộc cho trận chung kết : “ Cả Việt Nam tiến công, cả miền Nam nổi dậy” . Sự chuẩn bị trên 20 năm , giờ đây như một dòng thác vĩ đại cuốn sạch quân thù. .v.v 
Trên đây là những kinh ghiệm bản thân rút ra từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT, với cách tiến hành đó, chúng tôi nhận thấy chất lượng bộ môn tăng lên. 
- Kết quả cụ thể:
 + Thông qua đánh giá thái độ học tập: Tiết lịch sử dạy vào tiết thứ năm trong buổi học, nhưng cac em cảm thấy vẫn hào hứng chờ đợi để được học Lịch sử! 
+ Điểm số trong các bài kiểm tra được nâng lên rõ rệt, tỉ lệ điểm khá – giỏi cao hơn so với trước đây, trong khi số học sinh yếu kém cũng giảm đáng kể .
Soá löôïngh/s
Khá - Giỏi
Trung bình
Yếu - Kém
Năm học 2016 - 2017
216 hoïc sinh
25%
57%
18%
Năm học 2017 - 2018
234 hoïc sinh
37%
55%
8%

Điều lí thú nữa là các em học sinh lớp nâng cao các môn tự nhiên cũng đã rất hứng thú khi vào tiết học lịch sử. 
PHẦN KẾT LUẬN
Như vậy, theo chúng tôi, muốn nâng chất lượng bộ môn, người thầy giáo dạy sử cần phải biết tự ái, để nổ lực phấn đấu, nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, tìm tòi và sáng tạo áp dụng vào thực tế hoàn cảnh giảng dạy cụ thể, trước hết tạo ra được sự niềm tin và hứng thú của các em học sinh. Bài học được rút ra là phải liên tục “ giữ lửa” cả đối với thầy và trò.
Toàn bộ nội dung trên đây là thiển ý của chúng tôi, những điều đã được rút ra từ thực tiễn giảng dạy. Củng là lương tâm, tình cảm, trách nhiệm của một người đứng trên mục giảng. Phần trình bày chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết về lý luận và thực tiễn cả về nội dung và cách diễn đạt, trình bày. Chúng tôi chân thành mong muốn sự góp ý của các nhà quản lý chuyên môn, các bậc trưởng lão trong làng” Sử”, các bạn đồng nghiệp đồng môn. Chúng tôi xin được trân trọng ghi nhận, tiếp thu ý kiến để thực hiện tốt tiêu chí mà ngành giáo dục Tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung đã đề ra.
PHẦN KIẾN NGHỊ
1/ Ñoái vôùi tröôøng THPT caàn toå chöùc ñöôïc nhieàu loaïi hình phong phuù, ñôn giaûn deã thöïc hieän, thu huùt ñöôïc nhieàu hoïc sinh tham gia, coù phöông aùn tích hôïp, loàng gheùp nhieàu hoaït ñoäng, nhieàu boä moân trong “ Caâu laïc boä” và ñöôïc duy trì lieân tuïc, taïo thaønh moät neùt sinh hoaït ñaäm chaát truyeàn thoáng cuûa nhaø tröôøng. Trong caùc dòp leã lôùn cuõng neân môøi moät soá caùc vò laõo thaønh caùch maïng” ngöôøi thaät, vieäc thaät” ñeán noùi chuyeän, taïo khoâng khí lòch söû vaø coù taùc duïng giaùo duïc ñaïo ñöùc cao. 
2/ Ñoái vôùi caùc caáp quaûn lyù giaùo duïc .
- Sở GD& ĐT taïo ñieàu kieän veà cô sôû vaät chaát – kó thuaät ñeå caùc tröôøng tieán haønh hoaït ñoäng thuaän lôïi, thu ñöôïc keát quaû cao hôn; Tổ chức thường xuyên các cuộc hội thảo, có giải thưởng xứng đáng cho các tham luận có giá trị.
- Bộ GD&ĐT neân khoaùn chöông trình và tăng 1 tiết cho khối 12, có như vậy mới thêm hành trang hiểu biết lịch sử trước khi bước vào mội trường mới.
 Nhöõng kieán thöùc lòch söû caàn thieát khaùc coù theå trình baøy trong taøi lieäu ñoïc theâm, saùch giaùo khoa neân taêng keânh hình nhieàu hôn. 
Xin chân thành cảm ơn và gửi lời chào đoàn kết và xây dựng.
Xác nhận của BGH
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan SKKN này là của tôi làm, không sao chép với bất cứ hình thức nào.
 Người viết SKKN
 PHẠM THỊ THỦY
	
MUÏC LUÏC
PHẦN MỞ ĐẦU.
Bối cảnh của đê tài ..........................................................Trang 1
Lí do chọn đề tài..............................................................Trang 1
Phạm vi và đối tượng của đề tài......................................Trang 2
IV. Mục đích của đề tài.........................................................Trang 2
PHẦN NỘI DUNG
Cơ sở lí luận của đề tài.........................................Trang 3
Thực trạng vấn đề.................................................Trang 3
Các biện pháp tiến hành.......................................Trang 6
1/ Một số hoạt động khơi dậy ý thức “dân ta phải biết sử ta”.Trang 8
2/ Soạn bài..Trang 9
3. Sắp xếp lại giàn ý, lựa chọn kiến thức làm nổi bật trọng tâm..Trang 11
4/ Công thức hoá – học sinh dễ nắm nội dung cơ bản của bài, chương...Trang 14
5/ Tích hợp một số kiến thức, kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan, chuyện kể, làm cho tiết học sinh động và hấp dẫn hơn.................Trang 15
PHẦN KẾT LUẬN.................................................................Trang 17
PHẦN KIẾN NGHỊ .......Trang 18
TAØI LIEÄU THAM KHAÛO.
1/ PHÖÔNG PHAÙP DAÏY HOÏC LÒCH SÖÛ- Tuû saùch ñaïi hoïc sö phaïm – NXB Giaùo duïc – ñaøo taïo 1980.
2/ GAÂY HÖÙNG THUÙ HOÏC TAÄP LÒCH SÖÛ – NXB Giaùo duïc – ñaøo taïo 1983.
3/ PHAÙT HUY TÍNH TÍCH CÖÏC CHUÛ ÑOÄNG SAÙNG TAÏO – NXB Giaùo duïc - ñaøo taïo 1980.
4/ TAØI LIEÄU HÖÔÙNG DAÃN GIAÛNG DAÏY LÒCH SÖÛ DUØNG TRONG NHAØ TRÖÔØNG PTTH HOẰNG HÓA 
5/ SAÙCH GIAÙO KHOA NGOAØI GIÔØ LEÂN LÔÙP – KHOÁI 10 NAÊM 2010 – 2011.
6/ Một số tờ báo: Giáo Dục và Thời Đại, Tuổi trẻ, tuổi trẻ Nét, Dân trí,.v.v

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_h.doc