Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm về bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia trong giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo hướng tiếp cận chuẩn khu vực và thế giới, giáo dục Việt Nam có rất nhiều việc phải làm, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn ngành, toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị. Trong nhiệm vụ của thầy và trò ở các nhà trường, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là một yêu cầu hết sức cơ bản, trong đó nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Thực tế hiện nay ở các trường THPT công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý muốn.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm về bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia trong giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
á căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu n kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế của ta. Chúng âm mưu giành thắng lợi quân sự, tién tới thành lập chính phủ bù nhìn, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. - Thực hiện kế hoạch trên, Pháp đã huy động một lực lượng quân đội lớn với 12.000 quân tinh nhuệ gồm cả không quân, lục quân, thuỷ quân và hầu hết máy bay có ở Đông Dương, chia thành ba cánh quân mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. Về phía ta: - Sau một năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các cơ quan trung ương của ta đã rút về căn cứ Việt Băc để kháng chiến lâu dài. - Lực lượng kháng chiến của ta lúc này còn non yếu. Trung ương Đảng chủ trương tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh. * Kết quả, ý nghĩa: - Cuộc chiến đấu hơn hai tháng giữa ta và địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19-12-1947. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn. Bộ đội chủ lực của ta đã trưởng thành. - Sau 75 ngày đêm chiến đấu, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm và bắ cháy 11 tàu chiến, cano, phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các loại, thu nhiều vũ khí và hàng chục tấn quân trang, quân dụng. - Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi. Đã giáng một đn quyết định vào chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Đây là mốc kh đầu sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Câu 11. Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch dó? a. Chiến dịch chủ động tiến công đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch Biên giới thu đông 1950. b. Hoàn cảnh lịch sử - Về phía ta: + Bước vào năm 1950, tình hình thé giới và Đông Dương có nhiều sự kiện ảnh hưởng tới cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. + Ngày 1-10-1949, cách mạng Trung Quốc giành thắng lợi, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, ánh dấu sự ra đời của hệ thống XHCN trên thế giới, là cầu nối quan trọng giữa nước ta với các nước XHCN anh em. + Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước. Ngày 18-1-1950, Trung Quốc, ngày 30-1-1950 Liên Xô và tiếp đó là các nước DCND Đông Âu lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Như vậy, nước ta thoát khỏi thế bị cô lập, cách mạng nhận được sự ủng hộ của các nước XHCN, đứng đầu là Liên Xô. + Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới lúc này đang phát triển mạnh. Trong khi đó ở Pháp, phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp ngày càng lên cao. - Về phía Pháp: + Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, cùng với những khó khăn về kinh tế, tài chính, Pháp càng lệ thuộc vào Mĩ. Được sự đồng ý của Mĩ, tháng 5-1949, Pháp đề ra kế hoạch Rơve. + Mĩ từng bước can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Ngày 7-2-1950, Mĩ công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Ngày 8-5-1950, Mĩ đồng ý viện trợ tài chính và quân sự cho Pháp ở Đông Dương với âm mưu năm quyền điều khiển trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. + Thực hiện kế hoạch Rơve, từ tháng 6-1949, Pháp đưa nhiều vũ khí mới vào VN, tập trung quân ở Nam Bộ, Trung Bộ, tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4 từ Lạng Sơn đi Cao Bằng, thiết lập “Hành lang Đông Tây” (Hải Phòng – Hà Nội – Hoà Bình – Sơn La). Trên cơ sở đó, Pháp chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn tiến công Việt Bắc lần thứ hai, mong giành thắng lợi để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. c. Chủ trương của ta Tháng 6-1950, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm ba mục tiêu: + Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch + Khai thông biên giới Việt Trung, mở rộng đường liên lạc quốc tế + Củng cố và mở rộng căn cứ địa Việc Bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên d, Kết quả, ý nghĩa - Chiến dịch Biên giới diễn ra từ ngày 16-9-1950 và kết thúc thắng lợi ngày 22/10/1950, ta đã lại khỏi vòng chiến đấu hơn 8000 địch, giải phóng tuyến biên giới Việt – Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân, chọc thủng “hành lang Đông Tây” của Pháp. Thế bao vây của địch cả trong và ngoài đối với căn cứ Việt Bắc bị phá vỡ. Kế hoạch Rơve bị phá sản. - Với chiến thắng Biên giới thu - đông 1950, con đường liên lạc của ta với các nước XHCN được khai thông, quân đội chủ lực của ta đã trưởng thành về mọi mặt, cơ quan đầu não kháng chiến của ta được bảo vệ. - Đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau chiến dịch, so sánh lực lượng giữa ta và thực dân Pháp có thay đổi căn bản. Quân ta giành thế chủ động chiến lược tên chiến trường chính Bắc Bộ, ngược lại thực dân Pháp bị đẩy vào thế bị động, đối phó với các cuộc tiến công của ta. Câu 12. Tại sao lại khẳng định từ chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 đến chiến thắng Biên giới thu - đông 1950 là một bước phát triển của cuộc kháng chiến? Việc khẳng định từ chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 đến chiến thắng Biên giới thu - đông 1950 là một bước phát triển của cuộc kháng chiến, xuất phát từ những lý do sau: Trước hết chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 là một chiến dịch địch chủ động tấn công lên Việt Bắc để tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta nhằm giành thắng lợi quyết định về quân sự đi đến kết thúc nhanh chiến tranh. Còn ta chủ động phản công địch để "phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp lên Việt Bắc". Trong chiến dịch này ta thực hiện kiểu chiến tranh du kích ngắn ngày, bao vây cô lập và chặn đánh các cuộc hành quân của địch. Qua chiến dịch Việt Bắc, ta đã đánh bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta. Tiếp đến chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, là chiến dịch ta chủ động tấn công địch nhằm tiêu hao sinh lực địch, khai thông biên giới, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thuận lợi mới thúc đẩy kháng chiến tiến lên. Trong chiến dịch Biên giới, ta thực hiện cách đánh công kiên kết hợp với vận động dài ngày. Qua chiến dịch Biên giới, ta giành được quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính (Bắc Bộ), địch bị đẩy vào thế bị động đối phó. Câu 13. Vì sao đầu tháng 12-1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ? - Địch xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với âm mưu hết sức nguy hiểm: nhằm thu hút chủ lực của Việt Minh đến đó để tiêu diệt. Trong tính toán của địch, ta không có khả năng tiến hành một chiến dịch quân sự lớn ở Điện Biên Phủ vì trong trường hợp đó, ta không đảm bảo được khả năng tiếp tế hậu cần cho một chiến trường cách xa hậu phương của ta, nếu ta cố tình đánh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn và sẽ bị tiêu diệt. Địch không thấy được khả năng khắc phục của ta và không thấy được chỗ yếu của bản thân mình. - Nếu địch giữ được Điện Biên Phủ chúng sẽ khống chế toàn bộ vùng rừng núi phía Bắc Đông Dương và do vậy chúng chưa thể thua trong chiến tranh. Để làm thất bại hoàn toàn kế hoạch Nava, làm tiêu tan ý chí thực dân của đế quốc Pháp, làm sụp đổ hi vọng giành thắng lợi quân sự của họ, chúng ta phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Có như vậy, ta mới giành thắng lợi quyết định, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về mặt quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. - Trên cơ sở phân tích âm mưu nguy hiểm của Pháp – Mĩ trong việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, ta thấy được bên cạnh mặt mạnh, địch có chỗ yếu cơ bản, Đây là sản phẩm của thế bị động về chiến lược, Điện Biên Phủ lại nằm sâu trong rừng núi Tây Bắc hiểm trở, chúng chỉ có đường tiếp tế duy nhất là đường hàng không nên rất dễ bị bao vây, cô lập. Ta có thể khoét sâu chỗ yếu của địch để giành thắng lợi. - Về phía ta, ta có đủ tinh thần và lực lượng của cả quân đội và nhân dân, đồng thời còn có sự giúp đỡ của quốc tế để đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ. - Trên cơ sở phân tích toàn diện, tháng 12-1953, Bộ Chính trị đã quyết định tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Việc thay đổi phương hướng tiến công chiến lược trong đông xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ thể hiện sự quán triệt và thực hiện phương châm chiến lược tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt và chắc thắng. Câu 14. Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao của Đảng ta trong việc kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954). - Đấu tranh quân sự và ngoại giao có quan hệ mật thiết với nhau. Thắng lợi quân sự là cơ sở để đấu tranh ngoại giao. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao có thể chủ động phát huy thắng lợi trên chiến trường và yếu tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh để tiến công địch, tranh thủ dư luận quốc tế. - Bước vào đông xuân 1953 – 1954, thực dân Pháp chuẩn bị thực hiện kế hoạch Nava, ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược nhằm phá tan kế hoạch Nava của Pháp - Mĩ. Mặt khác, ta cũng chủ trương kết hợp với một giải pháp ngoại giao để kêt thúc cuộc chiến. - Ta giành thắng lợi trong đông xuân 1953 - 1954, và nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm tạo cơ sở thực lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta., nhưng đống thời cũng làm thất bại cố gắng quân sự cao nhất của địch, buộc Pháp phải đi vào đàm phán để kết thúc chiến tranh và đảm bảo an toàn cho quân viễn chinh Pháp rút về nước. - Ngày 7-5-1954, ta giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, làm chấn động dư luận quốc tế, nhất là Pháp và Mĩ. - Ngày 8-5-1954, đoàn đại biểu chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu bước vào hội nghị Giơnevơ với tư thế người chiến thắng. - Tuy nhiên, đây là hội nghị quốc tế với sự tham gia của 9 bên, với mục đích, động cơ đàm phán khác nhau. Quá trình đấu tranh ngoại giao diễn ra phức tạp với tinh thần chiến đấu quyết liệt của đoàn đại biểu chính phủ ta và sự dàn xếp của các nước lớn. Đến ngày 21-7-1954, các văn bản của Hiệp định đã được kí kết. - Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của nhân dân ta, lập lại hoà bình trên bán đảo Đông Dương, đáp ứng nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới. Chúng ta đã giải phóng được hoàn toàn miền Bắc và chuyển cách mạng Việt Nam sang thời kì mới. Đó là một bước thắng lợi trong toàn bộ quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của dân tộc ta để đi tới độc lập tự do. - Như vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ là nhân tố quyết định để ta giành thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc chính quyền và nền độc lập dân tộc. Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương cùng với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, buộc Pháp phải rút hết quân đội về nước, Mĩ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hoá chiến tranh xâm lược Đông Dương. c. Khả năng áp dụng của giải pháp. Việc thực hiện đề tài này với mong muốn sẽ được các đồng nghiệp trong toàn tỉnh đón nhận và áp dụng thực hiện trong việc ôn luyện học sinh giỏi các cấp, đồng thời giúp học sinh có phương pháp và kĩ năng ôn luyện tốt hơn nhằm đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi và thi THPT quốc gia. d. Hiệu quả thu được do áp dụng giải pháp. Chuyên đề đã được triển khai dạy ở các đội tuyển thi học sinh giỏi tỉnh và quốc gia môn Lịch sử tại trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và đã thu được một số kết quả. Các em đã hứng thú và ham mê với môn Lịch sử, trong các buổi học, các em tích cực trao đổi và tranh luận với nhau, đặc biệt là các vấn đề phát sinh. Các đề thi, câu hỏi theo hướng mở đã phát huy được sức sáng tạo của các em. Các em dần tiếp cận và làm quen với đề thi hướng mới của những năm nay. Từ năm 2004 đến nay khi được giao ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12, đặc biệt từ năm 2010 khi bắt đầu ôn học sinh giỏi quốc gia và ôn thi THPT quốc gia, tham gia Trại hè Hùng Vương, thi học sinh giỏi khu vực Duyên hải Đồng Bằng Bắc Bộ tôi luôn cố gắng tìm tòi, tích lũy các phương pháp và kiến thức để soạn các chuyên đề đề cao theo từng giai đoạn hoặc vấn đề của lịch sử áp dụng trong công tác ôn luyện các đội tuyển học sinh giỏi hàng năm. Nhờ áp dụng phương pháp ôn luyện như trên mà số lượng giải các năm được nâng lên rõ rệt - Học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm trên 95% học sinh đi thi có giải - Học sinh giỏi tham gia trại hè Hùng Vương 2015, 2016: 5 Huy chương Bạc và 2 Huy chương Đồng - Học sinh giỏi Khu vực Duyên Hải Đồng Bằng Bắc Bộ (2015, 2016): 1 Huy chương vàng; 4 Huy chương Bạc và 2 Huy chương đồng. - Học sinh giỏi Quốc gia: 28 giải. (trong đó có 4 giải nhì, 9 giải ba) Năm học Giải nhất Giải nhì Giải ba Khuyến khích Tổng 2014 - 2015 0 2 1 2 5/6 2015 - 2016 0 0 1 2 3/6 2016 - 2017 0 2 3 1 6/6 e. Phạm vi ảnh hưởng của giải pháp. Về phương pháp ôn luyện và những bài tập thuộc phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 như đã trình bày trên có thể được áp dụng trong công tác ôn luyện học sinh giỏi lớp 12 tỉnh lớp 12, học sinh giỏi quốc gia, ôn thi THPT quốc gia trong tất cả các trường THPT trên địa bàn tỉnh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. g. Kiến nghị, đề xuất. Trong những năm qua, ở các trường THPT đã có nhiều chuyển biến trong việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Sử nói riêng. Qua nhiều năm học, số lượng học sinh giỏi cấp Tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia của bộ môn tăng lên, chất lượng ôn luyện cũng được nâng lên. Đối với học sinh ở trường THPT, việc bồi dưỡng môn Lịch sử cho các em mặc dù đã được các trường quan tâm, nhưng cũng không ít khó khăn và chưa phải là nhìn thấy ngay hiệu quả cao, bởi vì nhiều nguyên nhân: điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, thiếu tài liệu tham khảo, tham quan thực tế còn ít..... Song việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch Sử đối với học sinh ở trường THPT là cần thiết vì vậy tôi đề nghị một số ý kiến sau: - Các trường cần xây dựng, thành lập các phòng học bộ môn, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng, chuyên đề; cung cấp thiết bị và tài liệu dạy học. - Các trường tạo điều điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc bồi dưỡng chuyên môn, mua tài liệu, đồ dùng trực quan và các phương tiện dạy học cho các bộ môn cũng như môn Lịch Sử. - Tổ chức học sinh đi học tập thực tế để mở mang kiến thức nhân rộng các hình thức hoạt động ngoại khóa - Đối với giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử cần luôn luôn gần gũi giúp đỡ động viên học sinh yêu thích bộ môn, chủ động trong tham mưu và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi của bộ môn. - Các sáng kiến kinh nghiệm hàng năm về công tác ôn luyện học sinh giỏi nói riêng và giảng dạy nói chung cần được phổ biến rộng rãi giúp giáo viên các trường có điều kiện tiếp cận, học hỏi để nâng cao chất lượng dạy và học.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_ve_boi_duong_hoc_si.doc

