Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm về sử dụng phương pháp lập bảng biểu trong ôn thi THPT Quốc gia ở bộ môn Lịch sử
Hiện nay, chất lượng giáo dục đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt là những năm gần đây sau thực hiện Nghị Quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục [2]. Một trong những nội dung quan trọng trong việc thực hiện, là đổi phương pháp kiểm tra đánh giá.
Theo đó, từ năm 2017 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đổi mới phương án thi THPT Quốc gia theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Với hình thức thi mới này thì kết quả đánh giá quá trình dạy và học của giáo viên và các em học sinh ngày càng phản ánh thực chất hơn. Các em nỗ lực học, các thầy cô nỗ lực tìm tòi và áp dụng những phương pháp dạy, đồng thời hướng dẫn học sinh ôn tập một cách hiệu quả để có lượng kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu của một đề thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan.
Trong xu thế chung đó, đối với bộ môn lịch sử, đây cũng là một trăn trở của đa số đội ngũ thầy cô trực tiếp giảng dạy các em học sinh lớp 12, vì đối với các em, học lịch sử đã khó, cách nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức để làm đề thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan còn khó hơn. Một đề thi trắc nghiệm, phạm vi kiến thức rộng hơn rất nhiều so với một đề thi tự luận trước đây, theo đó, các em phải học nhiều hơn, thông hiểu hầu hết các nội dung lịch sử mới có thể vận dụng để làm đề. Mà, đa số các em học sinh đều đánh giá: môn lịch sử vừa khó thuộc, khó nhớ, khó....vận dụng.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm về sử dụng phương pháp lập bảng biểu trong ôn thi THPT Quốc gia ở bộ môn Lịch sử
ại câu hỏi vận dụng: Ví dụ: Câu 1. Phong trào cách mạng 1930 - 1931 và phong trào dân chủ 1936 - 1939 ở Việt Nam có điểm khác biệt về A. Nhiệm vụ trước mắt. B. Nhiệm vụ chiến lược. C. Giai cấp lãnh đạo. D. Động lực cách mạng. Đáp án: A Câu 2. So với phong trào 1930-193, điểm khác biệt về phương pháp đấu tranh của thời kì 1936-1939 là A. Kết hợp đấu tranh ngoại giao với vận động quần chúng. B. Kết hợp đấu tranh công khai và hợp pháp. C. Kết hợp đấu tranh nghị trường và đấu tranh vũ trang. D. Kết hợp đấu tranh nghị trường, báo chí với biểu tình có vũ trang Đáp án B. Câu 3. Bài học nào dưới đây được rút ra từ phong trào dân chủ 1936 -1939 còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay? A. Phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh. B. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào cách mạng nước ta. C. Chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. D. Linh hoạt các phương pháp đấu tranh kinh tế, chính trị, ngoại giao. Đáp án: C. Ví dụ 4: Lập bảng biểu về các Hội nghị của BCH TW Đảng tháng 10/1930, tháng 7/1936. tháng 11/1939, tháng 5/1941 theo yêu cầu: Địa điểm, chủ trì, nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt, phương pháp, mặt trận đoàn kết dân tộc, nhận xét. Với nội dung này, mức độ khó tăng cao hơn, độ chính xác cũng cao hơn. và yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức ở nhiều bài, nhiều nội dung để hoàn thành bảng. Từ bảng trên, giáo viên hướng dẫn học sinh làm được rất nhiều những dạng câu hỏi trắc nghiệm khác nhau theo mức độ từ dễ đến khó. Như: Câu hỏi nhận biết: Ví dụ: Nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của cách mạng Việt Nam được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 7 - 1936) xác định là A. chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh. B. đánh đuổi đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc. C. đánh đuổi đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. D. chống phát xít, chống chiến tranh, giành độc lập dân tộc. Đáp án: A. Câu hỏi thông hiểu: Ví dụ: Trong những năm 1939 - 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương xác định kẻ thù của cách mạng là A. Thực dân, phong kiến. B. Bọn phản động thuộc địa và tay sai. C. Đế quốc, phát xít. D. Phát xít Nhật, tay sai. Đáp án: C. Câu hỏi vận dụng: Ví dụ: Vì sao Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 có tầm quan trọng đặc biệt với Cách mạng tháng Tám năm 1945? A. Hội nghị đã chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. B. Hội nghị đã củng cố được khối đoàn kết toàn dân. C. Hội nghị đã giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông dân. D. Hội nghị đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đề ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939). Đáp án: D. Ví dụ 5: Lập bảng thống kê những sự kiện chính trong quá trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1911-1930. Đây là dạng bảng niên biểu, yêu cầu thống kê diễn biến một nội dung lịch sử cụ thể là những nét chính trong quá trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1911 đến 1930. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh hoàn thành nhiệm vụ như sau: Thời gian Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc Kết quả, ý nghĩa Từ năm 1911-1917 Người bôn ba nhiều nước, làm nhiều nghề khác nhau. Người nhận thấy rằng ở đâu đế quốc thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức và bóc lột dã man Năm 1917 Nguyễn Ái Quốc trở về Pháp, gia nhập Đảng xã hội Pháp. 18/6/1919 Người gửi đến hội nghị Véc xai bản yêu sách của nhân dân An Nam . Người rút ra một điều rằng: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Tháng 7/1920 Người đọc sơ thảo lần thứ nhất bản luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.L. Lê nin. Tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn – bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc. 25/12/1920 Tham dự đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng xã hội Pháp tại thành phố Tua. Đánh dấu bước chuyển biến từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sỹ cộng sản. Năm 1921 Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước lập nên Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa. ............. Tháng 6/1923 Nguyễn Ái Quốc bí mật sang Liên Xô dự hội nghị quốc tế nông dân. .............. 11/11/1924 Nguyễn Ái Châu đến Trung Quốc để đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng ............... Tháng 6/1925 Thành lập hội Việt Nam cách mạng thanh niên Chuẩn bị về tư tưởng chính trị, về tổ chức cho sự ra đời ĐCS Việt Nam Từ 6/1 dến 8/3/1930 Chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Từ bảng niên biểu trên, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác vận dụng để làm các loại câu hỏi trắc nghiệm, đó là: Dạng câu hỏi nhận biết: Ví dụ: Câu 1: Sự kiện nào đánh dấu Nguyễn Ái Quốc bước đầu tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam? A. Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (12-1920). B. Nguyễn Ái Quốc đưa yêu sách đến Hội nghị Vécxai (18-6-1919). C. Nguyễn Ái Quốc đọc sơ thảo Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (7-1920). D. Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (6-1925). Đáp án: C Câu 2: Tháng 6 - 1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập A. Cộng sản đoàn. B. Hội Liên hiệp thuộc địa. C. Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông. D. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đáp án: D. Dạng câu hỏi thông hiểu: Ví dụ: Câu 1: Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 có ý nghĩa như thế nào? A. Nguyễn Ái Quốc đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đó là con đường cách mạng vô sản. B. Là sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập chính Đảng vô sản ở Việt Nam. C. Xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. D. Đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản. Đáp án: D. Câu 2: Những hoạt động cứu nước ban đầu (1911 – 1918) của Nguyễn Tất Thành có ý nghĩa là quá trình A. khảo sát thực tiễn để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn. B. khảo sát lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. C. kết nối giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. D. tìm hiểu về nước Pháp và chủ nghĩa tư bản. Đáp án: A Loại câu hỏi vận dụng: Ví dụ: Câu 1: Sắp xếp các sự kiện sau theo đúng trình tự thời gian 1. Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân dân An Nam. 2. Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pari. 3. Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. 4. Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp. A. 2,3,4,1. B. 1,4,2,3. C. 1,2,3,4. D. 1,3,2,4. Đáp án: B Câu 2: Sự kiện nào dưới đây khẳng định Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin tưởng đi theo con đường cách mạng vô sản? A. Tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa. B. Tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. C. Bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. D. Đọc bản Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Đáp án: C. 2.3.4. Một số lưu ý khi sử dụng bảng biểu trong việc hướng dẫn học sinh ôn tập và làm đề TN: - Không nên lạm dụng việc lập bảng biểu dạng so sánh để hướng dẫn học sinh ôn tập, bởi nó sẽ gây cảm giác nhàm chán đối với học sinh, hoặc có những nội dung không phù hợp cho kiểu bảng so sánh - Nên lựa chọn những bài, những nội dung phù hợp cho việc lập bảng, ví dụ, chỉ nên lập bảng so sánh đối với những kiểu bài tương đồng về định dạng nhưng khác nhau về nội dung kiến thức để học sinh dễ phân biệt, dễ so sánh, dễ rút ra nhận xét. - Bảng biểu dạng so sánh không thể thay thế việc ôn tập những kiến thức cơ bản, bởi trong bảng chủ yếu chỉ là dạng kiến thức tổng hợp. Muốn ôn tập tốt và sử dụng bảng biểu so sánh tốt để làm đề trắc nghiệm, không có con đường nào khác là học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản. Trên cơ sở đó mới sử dụng được bảng biểu so sánh một cách hiệu quả. Ví dụ, ở 2 nội dung về phong trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939, học sinh phải trên cơ sở nắm rõ được từng phong trào về bối cảnh thế giới và trong nước như thế nào, chủ trương của Đảng ra sao, rồi đến diễn biến, kết quả, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm. Từ đó mới nắm chắc kiến thức và đúc rút để đưa vào bảng biểu. - Câu, chữ trong bảng phải hết sức ngắn gọn, rõ ràng và chính xác. Tránh dài dòng kiểu diễn giải, hoặc kiểu trình bày mà thiếu đi tính cô đọng súc tích đem đến tác dụng ngược. - Tránh đưa vào bảng so sánh những tiêu chí không phù hợp, ngoài lề hoặc quá nhiều nội dung so sánh, gây rối mắt, khó hiểu, khó vận dụng. 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Sau thời gian nghiên cứu, áp dụng, tôi đã thu được những kết quả như sau: Thứ nhất, đối với phương pháp lập bảng biểu trong ôn tập THPT Quốc gia ở phần Lịch sử Việt nam giai đoạn từ 1919 đến 1945, tôi thực hiện tại các lớp 12 và thu đượcnhững kết quả tích cực như sau: + Lớp tôi sử dụng phương pháp lập bảng biểu để ôn tập, vận dụng làm câu hỏi trắc nghiệm khách quan và lớp tôi không thực hiện phương pháp: Lớp 12C1 Lớp 12C3 Không sử dụng lập bảng để ôn tập, làm đề TN (giai đoạn LSVN 1919-1945) x Sử dụng lập bảng để ôn tập và làm đề TN (giai đoạn LSVN 1919-1945) x + Đối với lớp tôi sử dụng phương pháp lập bảng để ôn tập và hướng dẫn làm đề TN, tôi thu được kết quả từ bài kiểm tra nhận thức là: (thực hiện 10 câu trắc nghiệm nằm trong giai đoạn 1919-1945 theo các mức độ như nhau) Lớp 12C1 (sĩ số 34) Lớp 12C3 (sĩ số 38) Kết quả bài kiểm tra Tính phần trăm Kết quả bài kiểm tra Tính phần trăm Điểm giỏi (9-10) 0 0 3 7,9% Điểm khá(7-8) 5 14,7% 16 42% Điểm TB(từ 5 -6) 20 58,8% 15 39,4% Điểm yếu(từ 3-4) 9 26,4% 4 10,5% Điểm kém (từ 0-3) 0 0 0 0 Nhìn vào kết quả trên, ta thấy sự khác biệt rõ ràng ở 2 lớp có sử dụng phương pháp lập bảng biểu để ôn tập và làm đề trắc nghiệm với lớp không sử dụng phương pháp lập bảng. Cụ thể, ở thang điểm 9-10, nếu lớp 12C1 không có điểm nào, thì lớp 12C3 có tới 3 con điểm giỏi đó. Hoặc ở thang điểm 7-8, ở lớp 12C1 chỉ 5 con điểm thì ở lớp 12C3 có tới 16 con điểm, chiếm tỉ lệ 42%. Thứ hai, qua quan sát từ thực tế giảng dạy nội dung ôn tập ở 2 lớp, tôi thấy sự khác nhau rõ rệt về tinh thần học tập. Nếu ở lớp 12C3 – lớp tôi sử dụng phương pháp lập bảng biểu để hướng dẫn các em ôn thi THPT Quốc gia, tinh thần các em hào hứng đón nhận nhiệm vụ được giao, hoạt bát và hứng khởi tìm cách vận dụng để ghi nhớ và vận dụng kiến thức để làm đề trắc nghiệm, thì ngược lại, lớp !2C1, các em tiếp nhận kiến thức một cách uể oải, thậm chí nhiều em không hào hứng tiếp nhận nhiệm vụ, nhiều em không nắm được kiến thức, từ đó dẫn đến việc khả năng vận dụng kiến thức để làm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cũng kém hẳn đi. Thứ ba, với riêng bản thân, khi tôi sử dụng phương pháp lập bảng biểu để hướng dẫn học sinh ôn tập nội dung Lịch sử Việt Nam ở giai đoạn này, tuy cần thời gian chuẩn bị (lập mẫu bảng và đáp án. Soạn đề trác nghiệm theo từng nội dung cho phù hợp), nhưng cái tôi thu được là được nhìn thấy các em hăng hái học tập, đón nhận kiến thức và phương pháp tôi hướng dẫn một cách nhiệt tình. Khi làm việc với học sinh, tôi cũng không phải cố gắng giảng nhiều, nói nhiều, làm việc nhiều mà chỉ đóng vai trò hướng dẫn các em học sinh làm việc. Vì vậy buổi học cũng nhẹ nhàng rất nhiều. 3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ. 3.1 Kết luận Điều 8.2, Luật Giáo dục đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Horaceman cũng đã nói: “Một ông thầy mà không dạy cho trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi”. Rõ ràng, việc đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết. Và việc đổi mới đó không chỉ áp dụng trong những tiết dạy bài mới, mà nó còn được áp dụng trong việc hướng dẫn học sinh ôn tập, mà đặc biệt là ôn tập để phục vụ cho kỳ thi THPT Quốc gia của các em học sinh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, dù giáo viên có tìm tòi, sáng tạo và chịu khó áp dụng những phương pháp hay kỹ thuật trong giảng dạy, thì kết quả còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa, trong đó không thể thiếu chính là động lực từ phía các em học sinh. Nếu các em yêu mến và quan tâm bộ môn Lịch sử. Nếu vị trí bộ môn Lịch sử được đặt ở mức cao hơn hiện nay, được chú trọng đầu tư nhiều hơn cả từ phía Nhà trường, xã hội và phía phụ huynh học sinh (coi trọng môn Lịch sử, không cho đó là “môn phụ”), thì đó sẽ là động lực mạnh nhất để thôi thúc mỗi người thầy, người cô trở thành tấm gương sáng cho học trò noi theo, và góp phần để nâng cao vị thế bộ môn Lịch sử nói chung, nâng cao phổ điểm thi bộ môn Lịch sử trong mỗi kỳ thi THPT Quốc gia, giúp các em học sinh mở được cánh cửa bước vào tương lai tươi sáng của đời mình. 3.2. Kiến nghị: Để góp phần vào việc sử dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học trong việc dạy và ôn tập, giúp học sinh nâng cao chất lượng trong các kỳ thi THPT Quốc gia, tôi xin được mạnh dạn có một số kiến nghị nhỏ sau đây: Thứ nhất, Cấp trên cần quan tâm hơn trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên một cách hiệu quả nhất, nhất là trong việc tập huấn ra đề kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Bởi theo tôi thấy, hàng năm có cán bộ, giáo viên đi tập huấn nội dung trên, nhưng việc về đơn vị truyền tải lại đã hao hụt đi rất nhiều, người ở nhà tiếp thu kiến thức chẳng còn lại được bao nhiêu. Thứ hai, nên quan tâm và coi trọng bộ môn Lịch sử nói chung, và tổ hợp môn xã hội nói chung. Nếu nhà trường sắp xếp lịch ôn thi THPT Quốc gia cho các em học sinh lớp 12 ở những bộ môn Toán, Văn, Ngoại ngữ, Tổ hợp tự nhiên, thì đối với tổ hợp môn xã hội cũng cần được sắp xếp và có kế hoạch ôn tập cho các em định hướng thi tổ hợp xã hội ngay từ đầu, tránh việc “nước đến chân mới nhảy”. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thọ Xuân, ngày 20 tháng 5 năm 2019 Người viết sáng kiến Đặng Thị Thu Hằng DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. SGK môn Lịch sử Lớp 12. NXB GD 2. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên: Hoạt động học tập của học sinh THPT 3. Đổi mới phương pháp dạy học. NXB GD. 4. Nguồn internet. Như: - Báo giáo dục thời đại. Link: - Báo Dân trí. Link: - Báo giáo dục. Link: - Trang web ôn thi trực tuyến: https://luyenthithptquocgia.com 5. Luật Giáo dục. DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN Họ và tên tác giả: Đặng Thị Thu Hằng Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Lam Kinh TT Tên đề tài SKKN Cấp đánh giá xếp loại (Ngành GD cấp huyện/tỉnh; Tỉnh...) Kết quả đánh giá xếp loại (A, B, hoặc C) Năm học đánh giá xếp loại Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc góp phần giảm tình trạng bạo lực học đường ở trường THPT. Sở GD&ĐT Thanh Hóa C 2017 Vài kinh nghiệm về việc tổ chức hoạt động học trong bộ môn Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh Sở GD&ĐT Thanh Hóa B 2018
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_ve_su_dung_phuong_p.docx

