Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy - học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT Như Thanh qua phương pháp sử dụng bảng biểu

Tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, những đổi mới giáo dục ở phổ thông mang tính cải cách giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét, điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những kỳ vọng về mẫu người học sinh có được sau quá trình giáo dục. Riêng ở Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định “ Mục tiêu của giáo dục THPT là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởngđộc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Để thực hiện mục tiêu đó, các môn học trong nhà trường đều có ý nghĩa và vai trò nhất định. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng là một quá trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau.

Dạy như thế nào và học như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất là điều mong muốn của tất cả các thầy cô giáo chúng ta. Muốn thế chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học. Người giáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu ổn định lớp đến cách kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố và dặn dò học sinh. Những hoạt động đó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo và ngày càng yêu thích, say mê môn học.

docx 28 trang SKKN Lịch Sử 19/11/2025 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy - học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT Như Thanh qua phương pháp sử dụng bảng biểu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy - học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT Như Thanh qua phương pháp sử dụng bảng biểu

Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy - học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT Như Thanh qua phương pháp sử dụng bảng biểu
 nhà tự hoàn thiện Bảng biểu.
- Ưu điểm: 	
+ Rút ngắn được thời gian những phần kiến thức không trọng tâm và giành cho những phần trọng tâm.
+ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng và ý thức tự học.
Ví dụ 1: Khi dạy về bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ (LS12 – chuẩn). Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh hoàn thành bảng biểu về diễn biến cách mạng Lào và Campuchia theo mẫu sau đây:
Giai đoạn
Cách mạng Lào
Cách mạng Campuchia
1945-1954
...................................................
..........................................................
.................
....................................................
..........................................................
.................
....................................................
..........................................................
.................
....................................................
..........................................................
2.3. Lập và sử dụng Bảng biểu trong khâu sơ kết bài học
2.3.1. Sử dụng bảng biểu để củng cố kiến thức bài học:
- Phần củng cố bài học, giáo viên sẽ phải hệ thống lại những kiến thức trọng tâm của bài học, do vậy giáo viên cũng có thể sử dụng các Bảng biểu để củng cố bài học. Như vậy, việc sử dụng các Bảng biểu trong phần củng cố, sẽ có chức năng hệ thống lại kiến thức cơ bản nhất, giúp học sinh dễ dàng nắm được kiến thức cơ bản của bài học.
- Ưu điểm: Hệ thống kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài học, giúp học sinh dễ học, dễ nhớ những kiến thức trọng tâm.
Ví dụ 1: Bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 – 1975) (LS12- chuẩn), sau khi trình bày xong bài dạy, giáo viên có thể đưa ra bảng niên biểu những sự kiện lớn của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm khắc sâu cho học sinh những sự kiện tiêu biểu.
Thời gian
Sự kiện
Chiến dịch Tây Nguyên
10/03/1975
Tấn công và giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột
24/3/1975
Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng
21/3/1975
Tấn công nhiều cứ điểm ở Huế
25/3/1975
Tiến vào cố đô Huế
26/3/1975
Giải phóng hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Cuối tháng 3
Giải phóng thị xã Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Hội An...
29/3/1975
Tiến công và giải phóng Đà Nẵng
Chiến dịch Hồ Chí Minh
16 -21/4/1975
Chọc thủng các phòng tuyến vòng ngoài của địch
17h00 ngày 26/4/1975
Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu
10h45’ ngày 30/4/1975
Quân ta tiến vào Dinh Độc Lập
11h30’ ngày 30/4/1975
Chiến dịch kết thúc thắng lợi.
Ví dụ 2: Bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973) (LS12 – chuẩn), sau khi dạy xong, giáo viên có thể đưa ra Bảng biểu: Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của nhân dân 2 miền Nam - Bắc về quân sự, chính trị, ngoại giao để hệ thống lại những thắng lợi tiêu biểu ở các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cho học sinh dễ nắm như sau: 
Thời gian
Quân Sự
Chính trị
Ngoại giao
1954 – 1960
Phong trào “Đồng khởi” năm 1959 – 1960, tiêu biểu là cuộc “Đồng khởi” ở Bến Tre đã đánh bại chiến lược “chiến tranh một phía”.
- Phong trào Hòa bình nhằm giữ gìn và bảo vệ lực lượng CM. Đòi Mỹ - Diệm thi hành Hiệp đinh Giơ-ne-vơ và đòi hiệp thương tổng tuyển cử
Thực hiện những điểu khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương
1961 – 1965
Chiến thắng Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài (đông xuân 1964 – 1965) đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”
- Phong trào quần chúng ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, nổi bật là cuộc đấu tranh của đội quân tóc dài, các tăng ni Phật tử.

1965 – 1968
- Ở miền Nam: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
- Ở miền Bắc: Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ (1965 – 1968) buộc Mỹ xuống nấc thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari
Các cuộc đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, Phật tử...đòi Mỹ rút về nước, đòi tự do dân chủ.
13/5/1968, cuộc thương lượng chính thức hai bên bắt đầu giữa đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Hoa Kỳ ở Pari họp phiên đầu tiên.
1969 – 1973
- Ở miền Nam: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đánh bại: “Việt Nam hóa chiến tranh”
- Ở miền Bắc: Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần hai của Mỹ, buộc Mỹ phải kí kết hiệp đinh Pari vào ngày 27/1/1973
Phong trào học sinh, sinh viên diễn ra rầm rộ ở khắp các thành thị, đặc biệt ở các thành phố lớn như: Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng thu hút đông đảo các tầng lớp tham gia.
Hiệp định Pari kí ngày 27/1/1973 buộc Mỹ và các nước cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Mỹ rút quân về nước để nhân dân NMVN tự quyết định tương lai chính trị của mình.
2.3.2 Sử dụng Bảng biểu dưới dạng bài tập về nhà:
- Sử dụng Bảng biểu dưới dạng bài tập về nhà là một trong những phương pháp thường dùng của giáo viên trong quá trình dạy học. Bởi vì ở cuối mỗi bài học đều có những câu hỏi, bài tập đòi hỏi mức độ vận dụng, có sự so sánh giữa kiến thức bài học đó với kiến thức của bài học khác. Vì vậy sử dụng bảng biểu trong khâu giao bài tập về nhà đem lai nhiều ưu điểm.
- Ưu điểm:
 + Tạo điều kiện rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học và làm việc tư duy độc lập của học sinh.
+ Đây chính là những câu hỏi, bài tập phân loại học sinh khá, giỏi. Từ đó giáo viên sẽ đánh giá được năng lực học tập của học sinh.
Ví dụ 1: Bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân hai miền vừa chiến đấu vừa sản xuất ( 1965 – 1973) – LS 12 – Chuẩn, sau khi kết thúc nội dung bài học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà so sánh cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất và lần thứ hai của Mĩ thực hiện ở miền Bắc.
Tiêu chí so sánh
Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất
Chiến tranh phá hoại lần
thứ hai
Thời gian

..
Quy mô
..
..
Âm mưu

..
Kết quả chiến đấu của quân và dân miền Bắc


..
..
Ví dụ 2: Bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973) LS 12 Chuẩn, sau khi kết thúc nội dung bài học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà: so sánh điểm giống và khác nhau giữa Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm 1954 và Hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973 theo các tiêu chí và mẫu dưới đây:
So sánh
HĐ Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương
HĐ Pari 1973 về 
Việt Nam
Hoàn cảnh
Giống nhau
..
..
Khác nhau
..
..
Nội dung
Giống nhau
..
..
Khác nhau
..
..
Ý nghĩa
Giống nhau
..
..
Khác nhau
..
..
2.4. Sử dụng Bảng biểu trong bài ôn tập, tổng kết lịch sử.
- Các bài ôn tập, tổng kết lịch sử là những bài khái quát những kiến thức đã học trong cả một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử. Việc nhắc lại toàn bộ những kiến thức đã học sẽ là điều không thể đối với giáo viên. Một trong những biện pháp giúp các em hứng thú học bài ôn tập, tổng kết lịch sử chính là việc giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng biểu theo hướng dẫn và gợi ý của giáo viên.
- Ưu điểm: Học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập, luyện khả năng hoạt động nhóm cho học sinh, đồng thời giúp các em hệ thống lại những kiến thức đã học.
Ví dụ 1: Bài 11( Lịch sử 12 – Chuẩn): Tổng kết Lịch sử thế giới hiện đại từ năn 1945 đến 2000. Khi dạy mục I: Những nội dung chủ yếu của lịch sử thế giới hiện đai từ sau năm 1945,GV hướng dẫn HS lập bảng biểu tổng hợp về những sự kiện quan trọng của lịch sử thế giới hiện đại giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1991. Giáo viên thông báo, nếu học sinh nào làm xong trước sẽ chấm điểm khuyến khích tinh thần tự giác học tập của các em.
Thời gian
Sự kiện cơ bản
Tác động, ý nghĩa
4-11/2/1945
Nguyên thủ 3 nước Liên Xô, Mĩ, Anh họp Hội nghị Ianta 
Hình thành khuôn khổ trật tự hai cực Ianta
20/10/1945
Hội nghị quốc tế thành lập tổ chức Liên hợp quốc
 Góp phần duy trì hòa bình và an ninh thế giới
.....................
....................................................
....................................................
.....................
....................................................
.....................................................
Ví dụ 2: Cũng ở bài 11, khi dạy mục II: Xu thế phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh, Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng biểu tổng hợp, chọn ra 10 sự kiện quan trọng nhất của lịch sử thế giới hiện đại giai đoạn từ năm 1991 đến năm nay ( theo gợi ý của GV)
Thời gian
Sự kiện
25/12/1991
 CNXH ở Liên Xô sụp đổ
06/1991
Hội đồng tương trợ kinh tế ( SEV) tuyên bố giải thể
07/1991
Tổ chức Vácsava ngừng hoạt động
01/1993
Liên minh châu Âu ( EU ) ra đời
11/09/2001
............................................................................................
....................................
............................................................................................
....................................
...........................................................................................
Trên đây là mộ số biện pháp, ví dụ cụ thể về việc hướng dẫn học sinh lập và sử dụng Bảng biểu trong một số bài học Lịch sử lớp 12 trên phần mềm Power Point. Giáo viên có thể sử dụng tương tự Bảng biểu ở hầu hết các bài học lịch sử trong chương trình THPT.
IV. Hiệu quả của SKKN.
- Qua hai năm trực tiếp giảng dạy lớp12, với phương pháp hướng dẫn học sinh lập và sử dụng bảng biểu ở trường THPT, tôi nhận thấy kết quả đạt được rất khả quan. Đa số học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng. Các em đều nắm được kiến thức cơ bản của bài học, từ đó hình thành được cho học sinh ý thức và thái độ nghiêm túc trong học tập, khắc phục được sự tản mạn, khó hiểu của môn học. 
- Việc hướng dẫn học sinh lập và sử dụng Bảng biểu trên Power Point giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều công sức và thời gian trong việc soạn - giảng bài dạy. Khi hướng dẫn học sinh lập Bảng trên Power Point sẽ không mất nhiều thời gian mà việc sử dụng lại linh hoạt, có thể sử dụng ở nhiều trường hợp khác nhau trong hoạt động dạy và học. (như phần trình bày trên đây).
- Sử dụng Bảng biểu góp phần làm cho các tiết học Lịch sử trở nên sinh động hơn, hiệu quả hơn, kiến thức được giáo viên trình bày một cách chọn lọc, giúp học sinh dễ nắm bắt.
- Thông qua việc giáo viên hướng dẫn học sinh lập, sử dụng Bảng biểu ở nhiều tình huống khác nhau đã bồi dưỡng cho HS kỹ năng, phương pháp tự học, khả năng làm việc độc lập, khả năng làm việc theo nhóm tích cực, chủ động và sáng tạo.
- Sau một thời gian tiến hành dạy - học bằng việc hướng dẫn học sinh lập và sử dụng Bảng biểu ở khối lớp 12 trường THPT Như Thanh, với các mức độ khác nhau ở các lớp. Tôi đã thu được kết quả so sánh cụ thể như sau: 
Các mức độ
Khối lớp thường xuyên sử dụng Bảng biểu trong bài học
Khối lớp ít sử dụng Bảng biểu trong bài học
Hứng thú học tập 
Đa số học sinh hứng thú trong giờ học lịch sử.
Học sinh chưa được hứng thú trong giờ học
Mức độ tiếp thu kiến thức
Học sinh hiểu bài nhanh hơn , nắm vững kiến thức, hiểu biết sự kiên lịc sử sâu sắc.
Học sinh tiếp thu kiến thức của bài còn chậm, thụ động, hiểu kiến thức bài học còn sơ sài, qua loa
Kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức để làm bài tập
Học sinh linh hoạt, biết vận dụng kiến thức để phân tích sự kiện, nhân vật lịch sử, bài làn có chiều sâu.
Học sinh chủ yếu học thuộc lòng, ghi nhớ các sự kiện một cách máy móc
Giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh
Học sinh có tình cảm, thái độ đúng đắn với môn học
Học sinh chưa thực sự chủ động, và chưa tích cực trong học tập.
Chiều hướng phát triển.
Phát triển tư duy độc lập, tự học, có tính sáng tạo trong học tập bộ môn.
Chưa rèn luyện cho học sinh tư duy độc lập
Phần C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Như vậy, hiệu quả của việc sử dụng Bảng biểu trong dạy học Lịch sử trên phần mềm Power Point đã rõ. Nếu sử dụng và khai thác tốt Bảng biểu trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT, thì đây là một trong những biện pháp đổi mới PPDH rất tích cực và mang lại hiệu quả cao.
	Tôi cho rằng: Muốn hướng dẫn và sử dụng Bảng biểu có hiệu quả trong dạy học lịch sử, mỗi giáo viên cần phải có những điều kiện cần và đủ như sau:
- Là một người biết sử dụng máy vi tính và thành thạo phần mềm Power Point
- Biết kết hợp tốt các thao tác giảng dạy và việc trình chiếu trên màn hình
- Phải không ngừng đổi mới PPDH với mục tiêu dạy - học phải “Lấy học sinh làm trung tâm”
- Phải không ngừng tìm tòi, học hỏi từ bạn bè, đồng nghiệp và lắng nghe học sinh.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân về việc hướng dẫn học sinh lập và sử dụng Bảng biểu trong chương trình lịch sử ở trường THPT, mà tôi muốn giới thiệu để các đồng nghiệp tham khảo. Đồng thời mong nhận được những trao đổi, góp ý của đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm cho bản thân và đạt hiệu quả cao hơn trong việc áp dụng đề tài. Bản thân tôi cũng hi vọng rằng, đề tài này sẽ được đông đảo giáo viên, nhất là giáo viên bộ môn lịch sử quan tâm rộng rãi, phố biến, nhằm nâng cao hiệu quả trong sự nghiệp “trồng người”.
II. Kiến nghị đề xuất.
1. Đối với sở GD&ĐT Thanh Hóa.
- Cần quan tâm nhiều hơn đến bộ môn Lịch sử. Hằng năm Sở Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức những chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT. 
- Cử giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy những chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử, để giáo viên trong toàn tỉnh được tham khảo, học tập và rút kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ năng lực chuyên môn.
- Khuyến khích những giáo viên có thành tích, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm viết sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT . Tập hợp những sáng kiến kinh nghiệm hay, có tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao để báo cáo dưới dạng chuyên đề bồi dưỡng theo chu kì thường xuyên.
2. Đối với nhà trường.
- Cần quan tâm nhiều hơn đến bộ môn Lịch sử, mạnh dạn đầu tư kinh phí để xây dựng phòng học bộ môn có trang bị đầy đủ đồ dung, tư liệu, máy chiếu..để phục vụ cho việc dạy và học có hiệu quả nhất
- Hằng năm, nhà trường nên dành một nguồn kinh phí để tổ chức cho học sinh đi tham quan, đi thực tế các khu di tích lịch sử nằm trên địa bàn của huyện nhà, tỉnh nhà gắn với các tiết học lịch sử địa phương. Qua đó giáo dục cho các em học sinh tình yêu quê hương đất nước, hình thành nhân cách, ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. 
- Đầu tư kinh phí cho những buổi sinh hoạt ngoại khóa để giáo viên trao đổi các phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy – học của nhà trường.
	Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi đúc kết qua việc trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT Như Thanh. Tôi thiết nghĩ rẵng đây là những kinh nghiệm mang ý kiến chủ quan của mình nên sẽ khó tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong được đồng nghiệp, quý thầy cô quan tâm đóng góp ý kiến để sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn. 
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người viết đề tài
 Vi Thị Khoa

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người viết đề tài
Vi Thị Khoa

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_hieu_qua_day_hoc_lich_su_lop.docx
  • docbia_skkn.doc
  • docmuc_luc.doc
  • doctai_lieu_tham_khao.doc