Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao kết quả học tập môn Lịch sử lớp 12, giai đoạn 1919 - 1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học

Nền giáo dục nước nhà đang từng bước đổi mới mà cốt lõi là lấy học sinh làm trung tâm. Học sinh chủ động tiếp cận, lĩnh hội tri thức, từ đó hình thành ý thức học tập suốt đời. Đó là mục tiêu quan trọng của quá trình đổi mới dạy học.

Lịch sử là bộ môn của sự kiện, không gian, thời gian và con người. Kỹ năng quan trọng khi học lịch sử là phân tích, đánh giá. Điều này chỉ có thể hình thành nếu học sinh biết cách tự học.

Là một giáo viên giảng dạy lịch sử ở trường THPT Như Xuân 2, tôi luôn trăn trở trong mỗi tiết dạy, nhưng không phải bài học nào, tiết học nào cũng đem lại hiệu quả theo ý muốn, đặc biệt là đối với những phần nhiều dung lượng kiến thức cần có sự kết hợp đa phương pháp giảng dạy. Tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trong môn Lịch sử là rất cần thiết, giải quyết được những vấn đề đã nêu.

Xuất phát từ thực tế trên, nắm bắt yêu cầu đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng môn học và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “ Nâng cao kết quả học tập môn Lịch sử lớp 12, giai đoạn 1919-1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học ".

doc 13 trang SKKN Lịch Sử 08/11/2025 200
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao kết quả học tập môn Lịch sử lớp 12, giai đoạn 1919 - 1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao kết quả học tập môn Lịch sử lớp 12, giai đoạn 1919 - 1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học

Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao kết quả học tập môn Lịch sử lớp 12, giai đoạn 1919 - 1930 ở trường THPT Như Xuân 2 thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học
các em thuận lợi hơn trong việc tự học, để có thể dễ dàng trả lời những câu hỏi khó mà sách giáo khoa không có đáp án.
 Thứ hai: Học sinh cần tích cực, chủ động tự nghiên cứu bài mới theo sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên, ngoài ra các em cần luyện viết bài, làm bài tập hoàn chỉnh để rèn luyện thêm kĩ năng diễn đạt.
 Thứ ba: Khi chuẩn bị bài mới nên chia vở thành hai cột theo tỉ lệ 7/3 . Cột bên trái ghi phần tự học ở nhà, cột bên phai ghi phần bổ sung tại lớp. Phần tự học ghi ngắn gọn, theo nội dung tiêu đề mà giáo viên yêu cầu.
 Thứ tư: Trước giờ học các em có thể chia ra từng cặp để trao đổi, ôn luyện và dò bài nhau. Trong giờ học phải tích cực thảo luận, trao đổi. Sau phần giáo viên chốt kiến thức học sinh tự đối chiếu với phần ghi ở nhà, nếu có chỗ nào chưa chính xác thì tự điều chỉnh bổ sung ở cột kế bên tương ứng, nếu còn thắc mắc thì chủ động trao đổi với giáo viên và bạn bè để hiểu và nắm vững kiến thức.
 Thứ năm: Tự học ở nhà là nhiệm vụ chính của học sinh, tuy nhiên phải làm thế nào để quá trình tự học của các em có hiệu quả điều đó phụ thuộc rất lớn vào giáo viên. Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể nội dung, yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi tìm hiểu kiến thức của bài học như nội dung chính, xác định trọng tâm, ý nghĩa của sự kiện ... Sau khi chốt ý trên lớp, giáo viên cho học sinh nhắc lại và đối chiếu với cột tự học ở nhà để các em bổ sung. Đồng thời giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng triệt để sách giáo khoa bằng cách dùng viết chì gạch chân những ý quan trọng trong sách giáo khoa, như thế sẽ giúp học sinh tiết kiệm được thời gian trên lớp và có thể ôn tập dễ dàng trong các kì thi. 
- Tổ chức thực hiện phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà phần “ Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 đến 1930 ” –lớp 12 THPT.
 Việc rèn luyện ý thức tự học và phát huy tính tích cực của học sinh không phải là một phương pháp dễ dàng, nên để thực hiện tốt phương pháp này cần phải có sự hợp tác từ hai phía giáo viên và học sinh, trong đó nhiệm vụ chính là của học sinh nhưng vai trò định hướng của giáo viên là vô cùng quan trọng nhằm giúp học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, nhất là đối với những bài có kiến thức nền tảng cho nội dung toàn chương, toàn phần. 
Ví dụ: Trong bài 12: “ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến 1925 ”: 
	Ở mục I. “ Những chuyển biến mới về kinh tế,chính trị,văn hóa,xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất ”. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu về hoàn cảnh, mục đích, nội dung và tác động của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân pháp. Khi các em tìm hiểu được nội dung này trước ở nhà thì lúc đến lớp được Giáo viên phân tích, giảng giải sẽ dễ hiểu hơn về việc tại sao Pháp lại tiến hành khai tác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương và Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất, với quy mô lớn, tốc độ nhanh nhưng chỉ tập trung vào nông nghiệp và công nghiệp nhẹ... Đặc biệt giáo viên cần định hướng và nêu vấn đề để thu hút sự tò mò và khả năng tư duy của học sinh về tác động của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân pháp đối với kinh tế, xã hội nước ta, nhất là sự phân hóa giai cấp trong xã hội để các em biết và hiểu, phân tích được khả năng, thái độ cách mạng của các giai cấp, tầng lớp. Đó cũng là cách để học sinh nắm rõ về lực lượng cách mạng trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Đồng thời nêu vấn đề cho học sinh tại sao trong các giai cấp thì chỉ có giai cấp công nhân mới có khả năng lãnh đạo cách mạng chứ không phải là giai cấp nông dân, tư sản hay tiểu tư sản... Hoặc yêu cầu các em xác định được những mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam lúc này và mâu thuẫn nào là cơ bản nhất... Từ những yêu cầu và vấn đề được giao các em sẽ tự nghiên cứu sách giáo khoa, hoặc trao đổi thao luận với nhau hay tham khảo thêm tài liệu để tìm hiểu vấn đề. Như thế học sinh sẽ hiểu ra vì sao từ năm 1919-1925 ở Việt Nam lại diễn ra phong trào dân tộc dân chủ.
 Tương tự như thế cho mục II: “ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam (1919-1925) ”. Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào câu hỏi có trong Sách giáo khoa để tự tìm hiểu nội dung bài học:
 Như câu hỏi số 2 Sách giáo khoa trang 82 : Hãy lập niên biểu về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919-1925 theo mẫu sau: Thời gian, nội dung hoạt động, ý nghĩa lịch sử của các hoạt động đó.
 Với câu hỏi 3 Sách giáo khoa trang 82: Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét về phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919-1925 theo các ý : mục tiêu đấu tranh, hình thức đấu tranh, lực lượng, kết quả, ý nghĩa, tính chất của các phong trào đấu tranh... Trong đó cần nhấn mạnh để học sinh thấy sự xuất hiện của phong trào đấu tranh theo khuynh hướng mới – khuynh hướng cách mạng vô sản - trong phong trào dân tộc dân chủ ở giai đoạn này.
 Đối với bài 13: “ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925-1930 ”
Đây là dạng bài cung cấp kiến thức mới với dung lượng lớn, và phức tạp với nhiều tổ chức, khuynh hướng, phong trào cách mạng khác nhau...làm học sinh rối và khó phân biệt. Chẳng hạn ba tổ chức cách mạng với ba tổ chức cộng sản; khuynh hướng cách mạng tư sản với khuynh hướng cách mạng vô sản; phong trào yêu nước với phong trào công nhân. Do đó học sinh rất cần được hướng để nắm bắt vấn đề một cách thấu đáo và tránh sự nhầm lẫn. Mặt khác thực tiễn của cuộc đấu tranh trong phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn này là sự thử thách nghiêm khắc, sự sàng lọc cặn kẽ để lựa chọn sứ mệnh lịch sử giữa các tổ chức, khuynh hướng cách mạng đó đối với dân tộc. Cuối cùng thì Đảng Cộng Sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập qua quá trình sàng lọc nghiêm khắc đã được lịch sử chọn lựa giữ ngọn cờ tiên phong duy nhât, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Để thấu đáo hết nội dung này thì chỉ với thời gian trên lớp thôi rất khó có thể giúp học sinh nắm vững được vấn đề. Giáo viên cần vận dụng tốt các phương pháp, trong đó phương pháp tự học ở nhà là hết sức cần thiết giúp học sinh vững vàng tiếp thu kiến thức.
 Ví dụ ở mục I. “ Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng ”. Theo chương trình giảm tải phần I.2 Tân Việt Cách mạng Đảng và I.3 Việt Nam Quốc Dân Đảng chỉ yêu cầu đọc thêm, nhưng giáo viên cũng cần yêu cầu học sinh tìm hiểu về sự ra đời, thành phần, khuynh hướng và hoạt động của nó để có thể so sánh với Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên, qua đó giúp HS hiểu rằng, tại sao trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, chỉ có Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên là có thể nắm giữ ngọn cờ giải phóng dân tộc, cũng như sự tất yếu phân hóa các tổ chức cách mạng để trở thành 3 tổ chức tiền thân của Đảng.
 Đặc biệt ở mục II. “ Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời ” phần II.1 “ Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản năm 1929 ”. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh về quá trình hình thành của ba tổ chức cộng sản, cần giúp các em thấy rằng quá trình hình thành đó là tất yếu, kiểu gì cũng sẽ xảy ra trong hoàn cảnh đó, qua đó khuyến khích học sinh tìm hiểu thêm về hoàn cảnh lịch sử cụ thể, lưu ý học sinh chỉ cần nắm chắc về thời gian hình thành và tên gọi, lần lượt là Đông Dương – An Nam – Liên Đoàn... Khi các em đã chuẩn bị và biết trước về nội dung này sẽ rất thuận lợi cho giáo viên trong quá trình lên lớp, không mất thời gian để giới thiệu nhiều chỉ cần tập trung phân tích ý nghĩa và tác động của sự kiện.	
 Còn ở phần II.2 “ Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam ”. Đây là kiến thức căn bản trọng tâm của bài và liên quan rất lớn đến các nội dung tiếp theo nên yêu cầu học sinh phải nắm chắc. Giáo viên sẽ yêu cầu học sinh tìm hiểu trước về hoàn cảnh và nội dung hội nghị, đặc biệt là ý nghĩa lịch sử của viêc thành lập Đảng. Ở phần này giáo viên nên khai thác tư duy của học sinh bằng cách nêu vấn đề yêu cầu học sinh tự tìm hiểu theo nhóm (Nhóm 1: Tại sao hội nghị thành lập Đảng lại diễn ra suôn sẻ và hợp nhất dễ dàng ? Nhóm 2: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong hội nghị này như thế nào ? Nhóm 3: Tại sao nói Đảng Cộng sản ra đời là bước ngoặt Vĩ đại của cách mạng Việt Nam ? Nhóm 4: Tìm hiểu quy luật ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam?) Đồng thời giáo viên có thể kích thích thêm sự hứng thú của học sinh bằng những câu hỏi về nhà như: Tại sao lại đặt tên là Đảng cộng sản Việt Nam mà không phải Đảng Cộng Sản Đông Dương? Qua đó càng thấy rõ hơn vai trò to lớn, khả năng sáng tạo cũng như sự nhạy bén chính trị của Nguyễn Ái Quốc... Với phương pháp này chắc chắn sẽ hỗ trợ rất tốt cho tiết học, tạo được sự hứng thú và tích cực cho học sinh. Đồng thời giúp các em rèn luyện được kĩ năng vận dụng và trình bày vấn đề. 
 Phần thực nghiệm sư phạm
- Mục đích thực nghiệm sư phạm:
Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định mục đích nghiên cứu của đề tài là thiết thực, khả thi, đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử của học sinh trường THPT Như Xuân 2; Xác định mức độ phù hợp, hiệu quả và tính khả thi của việc hướng dẫn học sinh tự học trong phần “ Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930 ” – lớp 12 THPT ở trường THPT Như Xuân 2; Khẳng định được tính khoa học và hiệu quả của đề tài về phát triển năng lực tư duy, sáng tạo cho học sinh THPT Như Xuân 2.
- Nội dung thực nghiệm	
- Điều tra và phân tích kết quả điều tra về đặc điểm của học sinh lớp 12 của trường THPT Như Xuân 2.
- Thiết kế 1 giáo án có sử dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh tự học trong phần “ Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930 ” –lớp 12 THPT.
- Xây dựng đề kiểm tra và đáp án cho lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.
 - Đánh giá sự phù hợp về nội dung, mức độ của đề kiểm tra trong giảng dạy.
- Đánh giá về hiệu quả của biện pháp hướng dẫn học sinh tự học trong phần “ Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930” – lớp 12 THPT theo phương pháp dạy học tích cực.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Xây dựng nội dung và kế hoạch thực nghiệm.
- Tiến hành thực nghiệm theo nội dung và kế hoạch đã định.
- Thu thập thông tin và xử lí số liệu thực nghiệm.
- Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm.
- Tổ chức thực nghiệm
+ Đối tượng và phạm vi thực nghiệm
Tên trường
Tên lớp
Số học sinh
Tên giáo viên
THPT Như Xuân 2
12A (lớp thực nghiệm)
35
Phan Ngọc Thản
12B (lớp đối chứng)
35
Phan Ngọc Thản
	+ Dạy thực nghiệm
	 Để phần dạy thực nghiệm khách quan và hiệu quả, tôi mời các đồng nghiệp trong tổ bộ môn tham gia dự giờ trong tiết dạy thực nghiệm để khảo sát, phân tích và rút ra kết luận.
 Trong năm học 2015 – 2016, sau khi dạy thực nghiệm, chúng tôi đã thực hiện một số hình thức kiểm tra, khảo sát dựa trên câu hỏi cuối bài đối với học sinh lớp 12 ở trường THPT Như Xuân 2 và thu được kết quả như sau: 
Lớp
Số HS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12A
35
25
71,4
10
28,6
0
0
0
0
12B
35
05
14,2
20
57,2
10
28,6
0
0

2.4- Hiệu quả lợi ích thu được
Dựa trên các kết quả thực nghiệm sư phạm và thông qua việc xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm thu được, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm (12A) cao hơn hẳn ở lớp đối chứng (12B), đặc biệt là tỷ lệ bài khá giỏi tăng lên đáng kể, vì trong quá trình học tập các em được chủ động lĩnh hội kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nên các em tiếp thu bài giảng một cách hứng thú, nắm kiến thức tại lớp và ghi nhớ lâu hơn. Còn tại các lớp đối chứng số bài trung bình còn nhiều, thậm chí có cả bài yếu, số bài khá giỏi có tỷ lệ ít hơn rất nhiều, vì thế học sinh không hiểu sâu kiến thức và sẽ không hứng thú học tập môn lịch sử nếu như tình trạng dạy “chay” diễn ra thường xuyên.
Như vậy, phương án thực nghiệm không những giúp cho bài giảng của thầy thêm sinh động, hấp dẫn, tránh đơn điệu khô khan mà còn giúp cho học sinh hứng thú hơn với giờ học, giúp các em chủ động lĩnh hội tri thức, qua đó phát triển khả năng nhận thức và năng lực tư duy, sáng tạo, tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu, góp phần giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, trung bình và tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi.
Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
+ Góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở bậc THPT.
	+ Rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, tìm tòi sáng tạo của học sinh.
+ Nâng cao năng lực sư phạm và uy tín trước học sinh của giáo viên, tạo hứng thú học tập cho các em, từ đó các em hiểu chính xác, sâu sắc các sự kiện, hiện tương lịch sử đang học, khơi dậy trong tâm hồn các em những xúc cảm lịch sử, đó là cơ sở để giáo dục tình cảm, đạo đức, bồi dưỡng thái độ yêu ghét đúng đắn, có tác dụng giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng cho các em. 
+ Có thể áp dụng cho các môn khoa học khác như: Vật lí, Văn học, Địa lý, Giáo dục công dân...
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
 Kết Luận:
 Qua nhiều năm tham gia giảng dạy, Tôi nhận thấy rằng để nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử cần chú ý những vấn đề sau:
	- Phải nắm chắc nội dung toàn bộ khoá trình, phân loại theo từng giai đoạn, chủ đề, vấn đề.
	- Khi soạn bài cần xác định chính xác nội dung, trọng tâm, trọng điểm của từng tiết, từng bài để phân bố thời gian hợp lí, sử dụng hiệu quả, sáng tạo, linh hoạt các phương pháp và phương tiện trực quan, trong đó có biện pháp hướng dẫn học sinh tự học trong phần “ Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930” –lớp 12 THPT.
- Giáo viên phải thực sự đầu tư thời gian, tâm huyết cho việc thiết kế bài dạy và chú ý tới biện pháp hướng dẫn học sinh tự học nhất là trong giai đoạn bùng nổ của công nghệ thông tin, nếu phương pháp giảng dạy của thầy cứng nhắc, máy móc, nhàm chán sẽ không gây được hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên sẽ không đạt được mục tiêu giáo dục.
- Hướng dẫn học sinh tự học có ý nghĩa quan trọng sẽ đem lại hiệu quả cao về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh. Ngoài ra nó còn có tác dụng giúp giáo viên tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
 Kiến nghị: 
 - Sở giáo dục cần thiết bổ sung tài liệu phục vụ cho môn học lịch sử ở trường THPT, cần có chính sách hỗ trợ thiết bị dạy học bộ môn lịch sử cho các trường THPT đóng trên địa bàn vùng đặc biệt khó khăn, xa khu vực thành thị và nơi không có các di tích lịch sử;
 - Góp ý cho việc chỉnh sửa nội dung, cấu trúc bộ môn Sử trong hệ thống giáo dục phổ thông cho phù hợp với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo Nghị quyết số 29- NQ/TW;
 - Tăng cường việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn lịch sử ở trường THPT.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người Viết SKKN
Phan Ngọc Thản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 10. NXB Đại học sư phạm, 2012. 
2. Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 THPT, NXB Đại học sư phạm, 2012. 
3. Th.S Trương Ngọc Thơi, Bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử 10, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2012.
4. Th.S Trương Ngọc Thơi, Bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử 11, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2012.
5. Trang Website: Google
6. Thư viện bài giảng điện tử Violet
7. Sách giáo khoa Lịch sử 12- NXB Giáo dục, 2008

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_ket_qua_hoc_tap_mon_lich_su_l.doc