Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa -chính trị và địa - kinh tế rất quan trọng mà không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Hiện nay trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển đảo rất quyết liệt và phức tạp gây ra những nhân tố khó lường về chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh đất nước.

Xuất phát từ thực tế hiện nay khi vấn đề chủ quyền biển đảo đã và đang được xã hội quan tâm thì bài học lịch sử lại “thờ ơ” với vấn đề này trên mọi khía cạnh. Vì sao tôi lại khẳng định như vậy? Có thể nói qua hơn 10 năm giảng dạy lịch sử, điều mà tôi thắc mắc là: bài học lịch sử cho học sinh biết về các vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội… của nước ta qua các thời kỳ nhưng không có bài học nào đề cập đến lịch sử biển, đảo của Nhà nước hay quân và dân ta đấu tranh để bảo vệ chủ quyền biển đảo như thế nào?. Nếu có thì đó chỉ là một vài sự kiện nhỏ trong xâu chuỗi những sự kiện lớn, ví dụ: ngày 1/9/1858 Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu quá trình xâm lược nước ta hay ngày 29/4/1975 quân ta tấn công giải phóng các đảo và quần đảo…Vì thế để hình dung lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo như thế nào học sinh không hề có một chút kiến thức cơ bản nào. Hơn nữa khi vấn đề chủ quyền biển đảo trở thành vấn đề nóng cần phải giáo dục cho mọi người thông qua nhiều hình thức thì đối với học sinh việc tuyên truyền cũng chỉ được xem nhẹ.

doc 18 trang SKKN Lịch Sử 08/11/2025 210
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử

Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử
1838
Như vậy, nếu không có chiến tranh thế giới lần thứ II (năm 1939 Nhật chiếm đóng 3 quần đảo) thì chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là liên tục và thực tế từ thế kỷ thứ XVII.
Tháng 11/1943, trong Hội nghị thượng đỉnh giữa Anh, Mỹ, Trung Quốc tại Cairô (Ai-cập) của các lãnh đạo của các bên có bàn về lãnh thổ Nhật chiếm đóng của Trung Quốc từ năm 1939 - 1943. Trong tuyên bố có khẳng định: Các vùng lãnh thổ Nhật chiếm đóng của Trung Quốc phải trả lại cho Trung Quốc gồm: Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bạch Hổ, không hề nói tới 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ba người đứng đầu của Mỹ, Anh, Trung Quốc, trong đó người đứng đầu Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch đều thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải của Trung Quốc. [1], [4]
Ngày 7/8/1945, trong tuyên bố của Hội nghị Posđam, với sự tham gia của 4 nước Mỹ, Anh, Trung Quốc và Liên Xô, đã viết: Các điều khoản của tuyên bố Cairô được thi hành, nghĩa là các vùng đất của Trung Quốc bị Nhật chiếm đóng sẽ được giao cho Trung Quốc gồm: Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bạch Hổ (4 cường quốc trong đó có cả Trung Quốc đều thừa nhận 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa không phải của Trung Quốc). [4]
Ngày 14/10/1950, Pháp chính thức chuyển giao lại việc quản lý quần đảo Hoàng Sa cho Chính phủ Bảo Đại. Đáng chú ý là tại Hội nghị San Fancisco (1951), với sự tham gia của 51 nước, Liên Xô có đề nghị trao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ với 46 phiếu chống. Tại hội nghị này, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao chính phủ Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu đã khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo mà không gặp phải ý khiến phản đối nào. Như vậy, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam. [4]
Về hành chính, năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng hoà quyết định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy và chuyển quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên về tỉnh Quảng Nam quản lý (1961).
Năm 1974, lợi dụng Mỹ rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (chỉ trong 37 phút, Trung Quốc dùng 11 tàu khiêu khích và quân nguỵ Sài Gòn mắc mưu, Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa). Trước sự kiện này, chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối Trung Quốc rất gắt gao.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã giải phóng và tiếp quản 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ, gồm: Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn, An Bang. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. [4]
Chiến sỹ đặc công Hải Quân kéo cờ trên đảo Song Tử Tây
Sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển nói chung và về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng, như: 
+ Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977. [6]
+ Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982.[6]
+ Hiến pháp năm 1992; Nghị quyết Quốc hội Khóa IX, Kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982. .[6]
Khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt các đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa (4/1956), các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa (1/1974) và một số bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam trong mỗi thời kỳ đều đã cực lực lên án và kiên quyết phản đối. Các mốc nổi bật là:
+ Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam đã ra tuyên bố 3 điểm phản đối hành động dùng vũ lực của Trung Quốc ở Hoàng Sa. .[6]
+ Ngày 12/4/1975, Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hoà (chính quyền Sài Gòn) công bố “Sách trắng” khẳng định các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. .[6]
+ Ngày 14/3/1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại Trường Sa. .[6]
+ Trong các năm 1979, 1981, 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã 3 lần công bố Sách trắng về 2 quần đảo. .[6]
+ Về quản lý hành chính: Năm 1982, Chính phủ đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. [6]
Qua phần này học sinh hiểu được ngay cả trong thời kỳ Pháp thuộc, Chính phủ Pháp đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền Việt Nam trên 2 quần đảo với tư cách là người kế thừa chủ quyền của triều đình phong kiến Việt Nam.
c. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển của ta [7]
Yêu cầu, mục tiêu của ta: Kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của ta, đồng thời giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn; tránh để xảy ra đụng độ, không để đổ vỡ quan hệ Việt - Trung.
Phương châm của ta: Chủ động theo sát, nắm vững tình hình, phối hợp tốt giữa các bộ, ban, ngành, các địa phương, lực lượng; hết sức tỉnh táo, tránh sơ hở; sử dụng biện pháp hòa bình, lấy đấu tranh ngoại giao, pháp lý là chính, cố gắng duy trì, thúc đẩy quan hệ hợp tác với Trung Quốc. Bám sát Thỏa thuận 10/2011.
* 4 tránh:
- Tránh xung đột quân sự.
- Tránh đối đầu kinh tế.
- Tránh bị cô lập về ngoại giao.
- Tránh để bị lệ thuộc vào chính trị.	
Phải nắm vững nguyên tắc cốt yếu: “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, trông vào nội lực là chính, kết hợp phát huy ngoại lực.
Chủ trương cụ thể:
Các giải pháp cụ thể với biển Đông = “3 C + 1 T + 6 K”
* 3 C: - Công khai (vi phạm, thủ đoạn, âm mưu )
 - Công luận: trong nước và quốc tế, ở Trung Quốc.
 - Công luật: UNCLOS 1982, DOC 2002 tiến tới COC
* 1 T: Theo thực địa, không để mất chủ quyền
* 6 K: - Kiên quyết
 - Kiên trì
 - Khôn khéo
 - Không khiêu khích
 - Không mắc mưu khiêu khích
 - Không để xảy ra xung đột.
Chúng ta có thể giữ vững được chủ quyền biển đảo bằng cách:
- Dựa vào sức mạnh tổng hợp về chính trị, kinh tế - xã hội, quân sự và cả khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền đường lối đúng đắn của Đảng.
- Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), đến 9/9/2013 đã có 6.037 tàu cá của 20/28 tỉnh thành ven biển được phê duyệt đủ điều kiện tham gia hoạt động trên các vùng biển xa theo quy định. 
Số lượng tàu cá đăng ký tham gia hoạt động trên các vùng biển xa đã tăng cao so với kế hoạch dự kiến. Mục tiêu tăng sự hiện diện của tàu cá và ngư dân Việt Nam trên các vùng biển xa đã đạt được. 
Theo số liệu quan sát năm 2010 có 5.623 lượt tàu, năm 2011 có 8.867 lượt tàu, đến năm 2012 tăng lên 17.782 lượt tàu. Và đến tháng 7/2013 đã quan sát được 12.918 lượt tàu hoạt động trên vùng biển Trường Sa.
Đến ngày 30/6/2013 cả nước đã hỗ trợ cho ngư dân khoảng 760 tỉ đồng, trong đó hỗ trợ nhiên liệu 673 tỉ đồng, hỗ trợ bảo hiểm 10 tỉ đồng, hỗ trợ máy thông tin liên lạc 69,7 tỉ đồng... ( nguồn Intenet)
- Dựa vào những lợi thế trong hội nhập với cộng đồng thế giới ARF,APEC bằng khai thác từ chính cấu trúc an ninh và kinh tế trên thế giới: Các nước khác nhau, đan xen lợi ích với nhau, móc xích với nhau cho nên khi cần phải có trách nhiệm chung. - tạo sự đan xen.
- Dựa vào sức mạnh thực lực nhất định.
Lực lượng Hải quân được Đảng, Nhà nước ta xây dựng tiến thẳng lên hiện đại, với nhiều vũ khí đủ sức bảo vệ Tổ quốc .
* Nhận xét chung:
Ở lớp thực nghiệm (12A3, 12A4): Sau khi học xong các vấn đề này qua lồng ghép vào nội dung lịch sử tôi nhận thấy các em rất tích cực và chú ý lắng nghe. Có thể do đây là vấn đề “nóng” mà các em chưa bao giờ được nghe một cách đầy đủ, cụ thể. Nhưng hơn thế tất cả các em đều nhận thấy đây là một vần đề lịch sử mang tính xã hội cần phải được đưa vào chương trình lịch sử cho tất cả các khối.
Đặc biệt các em còn nhận thức rất rõ không phải đi theo các hoạt động biểu tình phản đối các hành động của Trung Quốc mới là thể hiện trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và tinh thần yêu nước. Đó có thể là hoạt động của những kẻ lợi dụng cơ hội gây rối trật tự trị an. Yêu nước là cần phải học tập tốt, thực hiện theo đúng chủ chương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Nhiều em còn chỉ ra rằng chúng ta phải thể hiện hành động vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn như bài học đấu tranh chống thực dân Pháp và quân Trung Hoa Dân Quốc năm 1946. Qua đó các em nhận thức sâu sắc hơn tuổi trẻ cần phải yêu nước «bằng một trái tim nóng và một cái đầu lạnh » như thế nào
Ở lớp đối chứng (12A5): Do không được học một cách bài bản nên đa số chưa hiểu rõ ràng các khái niệm về chủ quyền của nước ta trên biển và vấn đề khẳng định chủ quyền biển đảo qua các thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên cũng có một số em nắm được vai trò vị trí, tầm quan trọng của biển đảo cũng như vấn đề chủ quyền biển đảo đang bị Trung Quốc xâm phạm song cũng chưa đầy đủ.
Thực tế này đã phản ánh được tác dụng của việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo thông qua bài học lịch sử đồng thời phát huy tính sáng tạo, tích cực, chủ động của học sinh.
	Bằng phiếu khảo sát môn học đã phản ánh sở thích học tập bộ môn lịch sử thay đổi tăng lên đáng kể so với đầu năm, nhất là ở các lớp thực nghiệm. Còn ở lớp 12A5 có tăng nhưng không đáng kể. Ở cả ba lớp mà tôi thực hiện đề tài thì tất cả các em đăng ký thi tốt nghiệp môn lịch sử năm học 2016 -2017 . Đó là tín hiệu đáng mừng vì điều mà tôi mong muốn ở các em là các em hiểu lịch sử dân tộc, yêu lịch sử dân tộc, hiểu cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của cha ông ta. Qua đó các em thấy được vai trò “tiếp lửa truyền thống” của bản thân và thế hệ trẻ đối với dân tộc. 
 2. Kết quả học tập môn lịch sử năm học 2016 – 2017
Lớp
Sĩ số
Yếu
Trung bình
Khá
Giỏi
Ghichú
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12A3
37
0

3
8
30
81
4
11
Lớp thực nghiệm
12A4
39
0

5
12
28
73
6
15
12A5
37
0

16
44
20
54
1
2
Đối chứng

 III . KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
 1. Kết luận
	Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử là một việc làm rất cần thiết đối với thực trạng xã hội hiện nay đồng thời góp phần làm cho bài học lịch sử sinh động đầy đủ trên nhiều phương diện. Vì bài học lịch sử không chỉ dạy cho học sinh quá trình dựng nước và giữ nước đối với đất liền mà còn là sự khẳng định tính toàn vẹn lãnh thổ ở cả phần biển, đảo. Từ đó xây dựng cho học sinh ý thức bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Hơn thế nữa với phần tự tìm hiểu của học sinh đã góp phần tạo nguồn hứng khởi cho các em, phát huy tối ưu khả năng tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức các vấn đề lịch sử, đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự, xã hội.
	Qua việc thực hiện đề tài này tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:
	1. Muốn việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử có hiệu quả cao, trước hết đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải lựa chọn những tài liệu, kiến thức lịch sử về biển, đảo, những khẳng định mang tính pháp lý quốc tế về chủ quyền của nước ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó giúp học sinh hiểu rõ hơn về quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời các em nắm được cuộc đấu tranh của nhân dân ta là cuộc đấu tranh chính nghĩa được luật pháp quốc tế ủng hộ.
	2. Đề tài này vừa mang tính lịch sử vừa mang tính thời sự, có nội dung tuyên truyền. Vì thế giáo viên phải chú ý nguyên tắc trong tuyên truyền (với tôi trong đề tài này tôi không viết về cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo ở các năm 1956 và 1988. Nhưng để học sinh có cái nhìn tổng quan, bao quát đầy đủ hơn về việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thì tôi đã trình bày một cách ngắn gọn nhất về cuộc chiến đấu của lực lượng Ngụy quyền Sài gòn để bảo vệ Hoàng Sa và cuộc chiến đấu anh dũng của lực lượng hải quân để bảo vệ đảo Gạc Ma )
	3. Việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải được giáo viên tiến hành thường xuyên và đối với cả 3 khối 10, 11, 12. Nhất thiết phải có phần giành cho học sinh tự tìm hiểu và trình bày ở trên lớp để tăng sự tự tin, tạo điều kiện cho các em thể hiện quan điểm của mình đối với các vấn đề xã hội. Từ đó giáo viên mới có thể định hướng hành động cho các em trong việc thể hiện tinh thần yêu nước đúng cách, đúng với chủ chương, đường lối của Đảng và Nhà nước, tránh bị kẻ xấu lợi dụng, kích động. 
	4. Quá trình tìm tài liệu chính thống cung cấp cho học sinh tự hiểu lúc đầu có thể gặp khó khăn nhất là giao cho học sinh tìm hiểu và trình bày vấn đề nào để tránh gây tình trạng “chán nản” cho các em. Vì vậy đòi hỏi sự cố gắng của cả thầy và trò, đối với trò tôi lấy bài thuyết trình của các nhóm để tính điểm hệ số một và cố gắng khuyến khích. Đây cũng được coi như là một động lực để các em làm việc tốt hơn.
	 Đặc biệt tôi nhận thấy với đề tài này việc xây dựng hình ảnh, tư liệu và sử dụng công nghệ thông tin cũng góp phần nâng cao hiệu quả của đề tài. Tuy nhiên trong năm học vừa qua tôi mới chỉ thực hiện đối với khối 12 đây là một hạn chế trong việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh phổ thông. Tôi sẽ cố gắng để khắc phục trong năm học tới.
2. Những ý kiến đề xuất: 
Hiện nay trong chương trình sách giáo khoa không có phần nào dành cho nội dung dạy về chủ quyền biển, đảo. Vì vậy việc bố trí các tiết học về những nội dung này còn gặp nhiều khó khăn nên tôi rất mong có sự hướng dẫn cụ thể của cấp trên để việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh có hiệu quả tốt nhất.
Nếu có thể rất mong Sở Giáo dục Đào tạo Thanh Hóa tổ chức cho các đồng chí giáo viên lịch sử một chuyến đi thực tế về biển, đảo để chúng tôi có thêm những tư liệu “sống” phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy.
Tôi rất mong Nhà trường, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cung cấp sách, báo liên quan tới các vấn đề này về thư viện nhà trường để phục vụ tốt hơn nữa cho học sinh cũng như giáo viên trong quá trình tìm hiểu.
Đề tài “Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông qua bài học lịch sử ” mà tôi thực hiện trong năm học vừa qua không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết. Rất mong được sự trao đổi góp ý của thấy cô, bạn bè, đồng nghiệp cơ quan quản lý chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU
Thanh Hóa , ngày 15 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Tác giả
Hồ Thị Hương

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Lịch sử 12
 2. Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa do Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Hải quân biên soạn năm 2011.
3. Hoàng Sa - Trường Sa: Hỏi và đáp, Nhà xuất bản Trẻ, 2011.
4. Hoàng Sa - Trường Sa: Luận cứ và Sự kiện, Nhà xuất bản Thời đại, 2012.
5. Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2013.
6. Lẽ phải - luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nhà xuất bản Trẻ, 2012
7. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2012

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_y_thuc_bao_ve_chu_quyen_bien.doc