Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi khi giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945
Một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bảo đã dẫn đến sự bùng nổ thông tin. Tình hình đó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng đổi mới, hiện đại hoá nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, nhằm cung cấp cho học sinh những khối lượng kiến thức mới được cập nhật để họ có thể thích nghi với cuộc sống và có cơ sở để tiếp tục học tập.
- Ở các trường Trung học phổ thông (THPT) hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Thực tế hiện nay ở các trường THPT công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý muốn. Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm được những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi khi giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945
cho phép, nhưng nó là mục tiêu cuối cùng của dân tộc, nó không phải là đấu tranh cải lương. Đây là phong trào thực hiện chiến lược của cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam. - Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, quán triệt chủ trương của Quốc tế Cộng sản, diễn ra trên qui mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức tổ chức và đấu tranh phong phú; buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Phong trào này là một bộ phận của phong trào vô sản thế giới đấu tranh cho hòa bình, chống phát xít, chống chiến tranh. * Ý nghĩa: - Quần chúng được giác ngộ về chính trị, được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh, tham gia vào mặt trận dân tộc thống nhất và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng. - Trình độ chính trị và công tác của cán bộ, đảng viên được nâng cao một bước, đội ngũ đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành. - Qua lãnh đạo đấu tranh, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng. Đường lối đấu tranh của Đảng, chủ nghĩa Mác – Lênin được phổ biến, tuyên truyền trong nhân dân. Đảng trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu. - Các tổ chức của Đảng và mặt trận được củng cố và phát triển. - Phong trào dân chủ 1936 – 1939 như một cuộc tập dượt, một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này. * Bài học kinh nghiệm: - Phong trào dân chủ 1936 – 1939 để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; về kết hợp các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, lợi dụng nhiều hình thức hợp pháp để đấu tranh công khai - Đồng thời, Đảng thấy được những hạn chế trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc. 2. Kinh nghiệm quý báu nhất - Đề ra đường lối cách mạng tiến công, triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp để động viên, giáo dục và tổ chức quân đội chính trị của quần chúng đấu tranh trong một mặt trận dân chủ rộng rãi. Bởi vì, chỉ qua đấu tranh công khai, qua báo chí, sách, những cuộc mít tinh, biểu tình, chủ nghĩa Mác – Lê-nin và đường lối của Đảng mới được phổ biến sâu rộng trong nhân dân, qua đó thúc đẩy phong trào phát triển. 4.3. Việt Nam từ năm 1939 đến năm 1945 Câu 1. Vì sao Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lại quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh? Phân tích vai trò của Mặt trận đó đối với Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. 1. Việc thành lập mặt trận Việt Minh, bởi vì: - Căn cứ vào yêu cầu giải phóng dân tộc: + Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng, ảnh hưởng đến tình hình các nước thuộc địa. Tháng 9/1940 Nhật vào Đông Dương, nhân dân Đông Dương chịu hai tầng áp bức Pháp – Nhật. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc - phát xít Pháp - Nhật và tay sai phát triển gay gắt. + Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra cấp thiết, cần phải tập hợp lực lượng toàn dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. - Căn cứ vào đặc điểm xứ Đông Dương thuộc địa và hoàn cảnh thế giới: + Đông Dương có ba quốc gia dân tộc Việt Nam, Campuchia và Lào, chung kẻ thù là đế quốc phát xít và tay sai. Hội nghị tháng 11/1939, Đảng đã thành lập Mặt trận phản đế Đông Dương, bao gồm các tổ chức cách mạng là hội Phản đế. + Mỗi quốc gia dân tộc ở Đông Dương có những đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, tập quán... vì vậy cần quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương chống kẻ thù chung là Pháp – Nhật và tay sai, giành độc lập cho mỗi dân tộc. Trên cơ sở đó thực hiện đoàn kết các dân tộc ở Đông Dương. + Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5/1941) quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng. Ở Việt Nam thành lập Việt Nam độc lập đồng minh với các đoàn thể quần chúng mang tên hội Cứu quốc. 2. Vai trò - Chương trình Việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, vì thế Việt Minh là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị lực lượng cơ bản và giữ vai trò quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945, đồng thời cô lập cao độ kẻ thù đế quốc xâm lược và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. - Việt Minh tạo cơ sở chính trị vững chắc để từng bước xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để phát động một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân, với sự kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. - Việt minh cũng tích cực tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng. Tháng 6/1945, khu giải phóng Việt Bắc ra đời, 10 chính sách của Việt Minh được ban bố góp phần vào xây dựng Việt Bắc thành hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới. - Tổng bộ Việt Minh cùng với Trung ương Đảng đã huy động toàn bộ dân tộc, ra sức chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, lãnh đạo nhân dân đánh Pháp đuổi Nhật, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945). - Tổ chức của Mặt trận Việt Minh còn là cơ sở để thực hiện đoàn kết lực lượng toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ dân chủ cộng hoà (từ tháng 9/1945 đến trước ngày 19/12/1946), cũng như trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc 1946 – 1951 Câu 2. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, hãy nêu tính chất của cách mạng tháng Tám năm 1945. - Đặc điểm của cách mạng tháng tám : + Nhiệm vụ và mục tiêu: Chống phát xít Nhật và bọn tay sai + Lực lượng tham gia: Công nhân , nông dân, tiểu tư sán, tư sản dân tộc, bộ phận địa chủ nhỏ + Lãnh đạo: giai cấp công nhân và đội tiên phong là Đảng cộng sản + Hình thức và phương pháp: là một cuộc bạo lực có kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang + Hướng phát triển : cách mạng tháng tám thắng lợi mở đầu cho việc tiến hành cuộc cách mạng XHCN - Tính chất của cách mạng : Căn cứ đặc điểm trên, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Tuy nhiên tính dân chủ trong cuộc cách mạng không phải là tính chất điển hình vì Cách mạng tháng Tám mặc dù đã xóa bỏ được chế độ thực dân, phong kiến nhưng chưa xóa bỏ triệt để được mọi cơ sở kinh tế- xã hội của chế độ phong kiến , chưa thực hiện triệt để khâu hiệu cách mạng ruộng đất . Giai cấp địa chủ còn tồn tại - Vì vậy Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính dân tộc, dân chủ nhân dân. Tính dân tộc là điển hình BÀI TẬP Bài 1. Hãy lập bảng tóm tắt các phong trào cách mạng 1930 – 1931; 1936 – 1939; 1939 – 1945 theo mẫu sau: Nội dung 1930 – 1931 1936 – 1939 1939 – 1945 Kẻ thù trước mắt Nhiệm vụ cách mạng Lực lượng cách mạng Phương pháp đấu tranh Bài 2. Hãy lập bảng tóm tắt các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng tổ chức và lãnh đạo trong thời kỳ 1930 – 1945 theo mẫu sau: Hình thức mặt trận Thời gian Bối cảnh ra đời Vai trò Bài 3. Hãy lập bảng tóm tắt các Hội nghị của Đảng trong giai đoạn 1939 – 1945 theo mẫu sau: Thời gian(tháng, năm) Tên hội nghị Hoàn cảnh lịch sử Nội dung cơ bản IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Trong thời gian qua tôi đã thực hiện sáng kiến kinh nghiệm đối với đối tượng học sinh trong lớp bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường THPT Hoằng Hóa 2- Hoằng Hóa- Thanh Hóa. Tôi nhận thấy học sinh từ chỗ chán học sử, sợ sử, bắt đầu có hứng thú, hăng hái, tích cực học tập và yêu thích môn sử hơn. Nếu trước năm học 2012-2013, trong các kì thi HSG lớp 12 bậc THPT nhà trường thường đạt kết quả thấp môn Lịch sử, thì từ năm 2012 -2013 đến nay số lượng HSG các bộ môn nói chung môn Lịch sử nói riêng đã không ngừng tăng. Bảng kết quả dưới đây là minh chứng: Năm học Số lượng học sinh tham gia Số giải Tỉ lệ 2012 - 2013 05 02 giải KK 2/5 2013 - 2014 05 01 giải ba, 01 giải KK 3/5 2014 - 2015 05 01 nhất, 01ba,03giải KK 5/5 2015 - 2016 05 01giải ba, 04 giải KK 5/5 2016 - 2017 05 01 giải ba, 04 giải KK 5/5 Tuy kết quả trên còn rất khiêm tốn, nhưng đối với các trường thuộc vùng nông thôn thì đây là kết quả hết sức to lớn đối với cô trò chúng tôi nói riêng và nhà trường nói chung. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM -Từ kết quả thu được trên đây trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, tôi rút ra được những kinh nghiệm sau: - Giáo viên phải hăng say với nghề, luôn tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra phương pháp ôn luyện một cách hiệu quả nhất ; - giáo viên phải xây dựng được khung chương trình ôn thi (dựa vào khung chương trình ôn thi do SGD& ĐT Thanh Hoá quy định), Đề cương ôn thi, luôn sửa chữa, bổ sung cho phù hợp với đối tượng học sinh và chương trình. - Trên cơ sở sự phân công của chuyên môn nhà trường, giáo viên phải lên kế hoạch ôn thi một cách khoa học, đảm bảo thời gian cho cả thầy lẫn trò. II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN Dạy học là một nghề rất cao quý, dù giảng dạy ở bộ môn nào, người giáo viên cũng phải đạt được những yêu cầu chung về lí luận dạy học theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước quy định. Như Bác Hồ thân yêu của chúng ta đã từng căn dặn “Dù cho có khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt học tốt”. Vì vậy bất cứ giáo viên bộ môn nào cũng cần có tấm lòng nhiệt thành đối với nghề nghiệp, không ngừng học hỏi, tìm tòi sáng tạo để nâng cao chất lượng bộ môn mình giảng dạy. Là giáo viên dạy môn lịch sử, tâm nguyện của tôi cũng như bao đồng nghiệp khác là đào tạo được nhiều học trò giỏi. Làm thế nào để đạt được điều đó? Đó cũng là nổi niềm băn khoăn, trăn trở trong tôi và những người làm công tác giảng dạy. Vì vậy, trong giới hạn của SKKN này, người viết chỉ khiêm tốn đưa ra một vài suy nghĩ về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, mặc dù đây chỉ là những kinh nghiệm nhỏ và đơn giản, nhưng tôi thiết nghĩ những kinh nghiệm tôi trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm này nó phù hợp với thực tế và phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường THPT Hoằng Hóa 2 nơi tôi giảng dạy. Hy vọng rằng những nội dung trong SKKN này sẽ là những thông tin để được các đồng nghiệp trao đổi, thảo luận để mong đúc rút ra được những kinh nghiệm thực sự quý báu trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Do hạn chế về năng lực, thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm va vấp thực tế chưa nhiều, SKKK này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của Hội đồng khoa học nhà trường, của đồng nghiệp cùng công tác với tôi để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI - Ngoài ứng dụng cho ôn thi HSG cấp tỉnh. SKKN này còn lưu tâm tới HS đại trà để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn . - SKKN này còn ứng dụng một phần cho ôn thi tốt nghiệp và ôn thi vào các trường Cao đẳng, Đại học bậc THPT. IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT ĐỀ XUẤT Công tác ôn luyện học sinh giỏi là một công việc khó khăn và vất vả đối với mỗi giáo viên khi tham gia ôn luyện, kết quả đạt được của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả về phía giáo viên và học sinh. Chính vì vậy để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, tôi xin có một vài đề xuất như sau: - Mong rằng, trong thời gian tới Ban giám hiệu nhà trường cần quan tâm sâu sát nhiều hơn nữa đến công tác bồi dưỡng, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên phát hiện những học sinh năng khiếu để giáo viên có định hướng cụ thể và đề ra kế hoạch dài hơi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. - Ban giám hiệu cần quan tâm nhiều hơn đến việc mua sắm thêm các tư liệu, tài liệu, sách tham khảo, sách nâng cao ở tất cả các bộ môn để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao. - Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn cần phổ biến các sáng kiến kinh nghiệm hay về công tác giảng dạy và ôn thi để giáo viên giữa các tổ cùng trao đổi, bàn bạc, học hỏi lẫn nhau góp phần đưa chất lượng giảng dạy của giáo viên tốt hơn và học tập của học sinh tiến bộ hơn. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hoằng Hóa, ngày 12 tháng 5 năm 2017 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, tôi không sao chép của người khác. Người viết Lê Thị Nhật TÀI LIỆU THAM KHẢO Luật giáo dục Kế hoạch năm học 2016-2017 của trường THPT Hoằng Hóa 2 Kế hoạch năm học 2016-2017 của tổ Sử- Địa- GDCD. Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi năm học 2016-2017 của trường THPT Hoằng hóa 2 Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi năm học 2016-2017 của môn Sử trường THPT Hoằng Hóa 2 Chương trình chuyên sâu lớp 12 dành cho trường chuyên của Bộ giáo dục và đào tạo. Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia từ năm 2000à 2016. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (chương trình nâng cao). Sách giáo viên lịch sử lớp 12 (chương trình nâng cao). Bài tập lịch sử lớp 12 –Trần Bá Đệ (chủ biên)- NXB Giáo dục- 2008. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn lịch sử- NXB Giáo dục của Bộ giáo dục đào tạo- vụ giáo dục phổ thông. Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở phổ thông- NXB Đại học sư phạm- Nguyễn Thị Côi. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi - Trịnh Đình Tùng( chủ biên)- NXB Giáo dục-2012 PHỤ LỤC **** BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI CHÍNH THỨC KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA THPT NĂM 2016 Môn: LỊCH SỬ Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề) Ngày thi: 06/01/2016 (Đề thi gồm 01 trang, 07 câu) Câu 1. (2.5 điểm. )Khái quát những thành tựu của nền văn hóa dân tộc Việt Nam từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV. Theo anh/ chị, chúng ta cần kế thừa, phát huy những thành tựu nào của nền văn hóa đó trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay? Câu 2. (2.5 điểm). Vì sao tư khi thành lập đến nay, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lại coi trọng vấn đề an ninh - chính trị? Theo anh/ chị, Việt Nam có vai trò như thế nào trong việc bảo vệ hòa bình, an ninh - chính trị ở khu vực Đông Nam Á? Câu 3. (3.0 điểm). Tóm tắt các phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam từ năm 1885 đến đầu năm 1930. Từ đó anh /chị có nhận xét gì về con đường giải phóng dân tộc ở nước ta? Câu 4. (3.0 điểm). Vì sao trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 5/1941, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương chuyển hướng đấu tranh? Phân tích nội dung chuyển hướng đấu tranh đó . Câu 5. (3.0 điểm). Nêu nội dung cơ bản Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973). Từ đó, nêu ý kiến của anh/chị về các quyền dân tộc cơ bản mà Mĩ công nhận đối với dân tộc Việt Nam . Câu 6. (3.0 điểm). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) đã nêu rõ cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta thắng lợi “đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX , một sự kiện có tầm qua trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” (Sách giáo khoa lịch sử 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015 tr. 197), Anh/ chị làm sang tỏ nhận định trên. Câu 7. (3.0 điểm). Trên cơ sở nào tổ chức Liên hợp quốc đề ra nguyên tắc: “giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình”? Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc này trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biên Đông hiện nay như thế nào? --------------- HẾT ---------------
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phuong_phap_on_tap_cho_hoc_sinh_gioi_k.doc

