Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học Lịch sử 12 ở trường THPT số 1 Sa Pa
Chúng ta đều biết, kiến thức lịch sử có những đặc điểm như mang tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính logic, tính thống nhất giữa sử và luận. Do vậy, trở ngại lớn nhất của học sinh trong học tập Lịch sử là các em không thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng lịch sử của quá khứ lịch sử. Vì lẽ đó, Đồ dùng trực quan có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học bộ môn. Đồ dùng trực quan thực sự là “cầu nối sinh động” giữa hiện tại với quá khứ. Theo các nhà phương pháp dạy học Lịch sử ở Việt Nam, trong dạy học Lịch sử đã có 3 nhóm Đồ dùng trực quan chính, gồm: Nhóm Đồ dùng trực quan hiện vật, nhóm Đồ dùng trực quan tạo hình, nhóm Đồ dùng trực quan quy ước. Đây là quan điểm phân loại mang tính chất mở. Bởi lẽ, cùng với những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại, hệ thống các Đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ngày càng được mở rộng. Trong đó, Sử dụng Bản đồ Tư duy nói chung và sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học Lịch sử nói riêng là một minh chứng tiêu biểu của việc vận dụng thành quả lý luận dạy học hiện đại vào dạy học Lịch sử với tính ứng dụng cao.
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học Lịch sử 12 ở trường THPT số 1 Sa Pa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học Lịch sử 12 ở trường THPT số 1 Sa Pa
hi dạy với Bản đồ tư duy chúng tôi thường sử dụng một số phương pháp sau: - Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa để tìm ra các sự kiện, sau đó giáo viên phân tích đào sâu....Giáo viên liệt kê các sự kiện lên Bản đồ tư duy để học sinh trình bày hoàn chỉnh sự kiện. Ví dụ: Khi dạy bài 13 Lịch sử 12 “ Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1930” Đến phần II.2. “ Hội nghị thành lập Đảng” giáo viên hướng dẫn học sinh lập Bản đồ tư duy theo các nội dung: Hoàn cảnh, nội dung, y nghĩa, cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. *Bản đồ tư duy dạy toàn bài. Trong nội dung chương trình môn lịch sử, có một số bài chúng ta có thể thực hiện dạy toàn bài theo Bản đồ tư duy, chủ yếu là những bài mà sách giáo khoa trình bày những khái niệm, những sự kiện có hệ thống, học sinh đọc sách giáo khoa có thể trình bày được những khái niệm. Chúng ta có thể cho học sinh đọc sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ Bản đồ tư duy vào vở và học bài theo Bản đồ tư duy. Ví dụ: Khi dạy bài 21- Lịch sử 12 “ Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài gòn ở miền Nam( 1954- 1965)” Khi dạy học sinh hoàn toàn bằng bảng tôi thường dành một góc bảng bên phải để cùng học sinh hoàn thiện Bản đồ tư duy. Sau khi học xong mỗi phần với các kiến thức cần ghi nhớ thì Bản đồ tư duy lại thêm những nhánh nữa. Khi kết thúc bài học mới cũng là lúc giáo viên và học sinh đã hoàn thành xong Bản đồ tư duy cho bài học. Khi dạy học sinh hoàn toàn bằng máy chiếu, tôi thường dùng bảng như một “bảng nháp” để cùng học sinh hoàn thiện Bản đồ tư duy. Ngược lại, khi dùng bảng, với những bài giảng có nội dung kiến thức ngắn, những lần đầu khi học sinh làm quen với Bản đồ tư duy tôi vẽ trực tiếp trên phần mềm để học sinh dễ quan sát và định hướng những công việc cần làm. Bên cạnh đó, cũng có những tiết dạy tôi cho học sinh hoạt động nhóm: Sau khi đã học xong nội dung kiến thức bài học, trước khi sang phần bài tập, củng cố tôi cho học sinh hoàn thành Bản đồ tư duy theo nhóm hoặc hoàn thành theo kĩ thuật “khăn trải bàn”. Tuy nhiên, quan trọng nhất là cho dù thực hiện theo cách nào thì sau đó học sinh phải lên trình bày, thuyết minh thông qua Bản đồ tư duy mà giáo viên và học sinh hoặc nhóm mình đã hoàn thành. Học sinh khác nhận xét, bổ sung. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh Bản đồ tư duy từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học. Giáo viên giới thiệu Bản đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung 1 kiểu Bản đồ tư duy, tôi chỉ chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu cần). 3.3. Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn đến sự thành công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp học sinh nhớ lại và khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, HS còn có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp. Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho học sinh. Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa giáo viên và học sinh. Điều đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến. Một số phương pháp củng cố bài thường dùng: +Củng cố bài giảng bằng thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu. Biện pháp củng cố này giúp HS hiểu được kiến thức thông qua khả năng phân tích, so sánh và móc nối các kiến thức. Thường áp dụng với những bài mang tính so sánh hay tổng quát, có thể sử dụng các sơ đồ, bảng biểu để hệ thống lại kiến thức. +Củng cố bài giảng bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập. Biện pháp này đánh giá việc học của học sinh, rèn cho học sinh khả năng diễn đạt. Nhưng sẽ tạo áp lực cho các học sinh tiếp thu chậm và không hiểu bài ngay tại lớp. Phương pháp áp dụng đối với những bài học nhiều lý thuyết. +Củng cố bài giảng bằng việc tổ chức các trò chơi. Biện pháp này tạo sự vui vẻ, hứng khởi cho học sinh đối với môn học. Nhưng có hạn chế là tốn nhiều thời gian để tổ chức cho lớp tham gia trò chơi. Nguyên tắc cơ bản là trò chơi phải đơn giản, đi sâu vào vấn đề trọng tâm của bài. +Củng cố bài giảng bằng cách cho học sinh tự tổng kết kiến thức. Biện pháp củng cố này rèn cho học sinh kĩ năng trình bày vấn đề trước đám đông và kĩ năng tóm lược vấn đề Phương pháp áp dụng với những bài nội dung đơn giản, dễ tổng kết lại kiến thức. Khi dạy xong bài 4- Lịch sử 12 (Các nước Đông Nam Á ) Giáo viên cùng học sinh hoàn thiện BĐTD sau: 3.4. Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy tiết ôn tập, tổng kết kiến thức * Những điểm cần chú ý về mặt phương pháp khi tiến hành bài ôn tập, tổng kết Bài ôn tập tổng kết không phải chỉ là sự tái hiện, giảng lại kiến thức cho học sinh mà phải thể hiện được sự hệ thống hóa, khái quát hóa và vận dụng, nâng cao toàn diện kiến thức của phần cần ôn tập cho học sinh. Vì vậy cần có sự xác định mục tiêu rõ ràng cho bài ôn tập về kiến thức, kỹ năng cần hệ thống, khái quát và mức độ phát triển kiến thức cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh. Khi chuẩn bị bài ôn tập cần sắp xếp các kiến thức cần khái quát, hệ thống cho một chương hay một phần theo hệ thống có logic chặt chẽ, theo tiến trình phát triển của kiến thức, cùng các kỹ năng cần rèn luyện. Phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu trong giờ ôn tập là đàm thoại tìm tòi, sử dụng bài tập Lịch sử. Việc khái quát hóa kiến thức, phát triển tư tưởng, năng lực nhận thức của học sinh đựơc điều khiển bằng các câu hỏi dẫn dắt giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và khái quát chúng ở dạng tổng quát nhất. Vì vậy giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống câu hỏi cho từng phần kiến thức, mối liên hệ giữa các kiến thức, vận dụng kiến thức, đào sâu phát triển kiến thức. Các câu hỏi nêu ra phải rõ ràng, có tác dụng nêu vấn đề để học sinh trình bày suy luận, thể hiện được khả năng tư duy khái quát của mình. Sự trình bày các bài tổng kết: Tùy theo nội dung cần tổng kết và sự phát triển của kiến thức, bài tổng kết có thể trình bày theo các đề mục, các vấn đề của nội dung mang kiến thức cần ôn tập. Đồng thời bài tổng kết cũng có thể trình bày ở dạng các bảng tổng kết, các sơ đồ thể hiện mối liên hệ các kiến thức giúp học sinh dễ nhìn, dễ nhớ và hệ thống hóa kiến thức ở dạng khái quát cao. Khi xây dựng các bảng tổng kết cần rõ ràng các sơ đồ dễ nhìn, đảm bảo tính khoa học và thẩm mỹ. Giáo viên học sinh cần có sự chuẩn bị chu đáo tỉ mỉ cho giờ ôn tập tổng kết: Ngoài việc chuẩn bị nội dung, kiến thức, câu hỏi cho bài ôn tập, hệ thống kiến thức đã đựơc trình bày trong sách giáo khoa, giáo viên cần chuẩn bị thêm một số kiến thức để mở rộng, đào sâu kiến thức... Các kiến thức, bài tập được lựa chọn cần đảm bảo trên cơ sở kiến thức phổ thông học sinh có thể hiểu vận dụng được, có tính chất mở rộng, giải quyết được một phần thắc mắc học sinh đặt ra khi đọc các sách tham khảo khác. * Sử dụng Bản đồ tư duy Bản đồ tư duy là một công cụ khá mạnh trong những tiết bài tập, ôn tập. Thông thường tôi tiến trình theo sơ đồ: 1. Sơ đồ hóa kiến thức à 2. Nội dung cần ôn tập à 3. Ôn tập tổng kết. Bước 1. Thông thường giáo viên thường giao cho học sinh về nhà hoàn thiện (Cách làm này cũng được áp dụng dạy kiến thức mới khi học sinh đã thành thạo với Bản đồ tư duy) Trước khi vào nội dung 2 tôi dành thời gian kiểm tra sự chuẩn bị cũng như kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức của học sinh bằng cách gọi một vài học sinh lên bảng trình bày những nội dung kiến thức mà mình đã thể hiện trong Bản đồ tư duy. Các em thoải mái trình bày theo những ý tưởng đã sắp xếp, học sinh khác và giáo viên chỉ làm thêm nhiệm vụ là bổ sung những nội dung còn thiếu trong những phần đã học trong Bản đồ tư duy. Bước 2. Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập theo những chủ đề đã có trong Bản đồ tư duy. Bước 3. Giáo viên cho học sinh hoàn thiện Bản đồ tư duy của mình như phần củng cố bài học. Chú ý phân phối thời gian hợp lý: Thời gian 1 tiết học 45 phút, nên vấn đề cần quan tâm để đạt hiệu quả là việc phân phối thời gian hợp lý. Do đó, Giáo viên dùng thời gian của những bài học ngắn khoảng 5 - 9 phút để thực hiện. Khoảng 2 - 4 phút: Các em bổ sung y tưởng riêng của mình và trao đổi với các bạn cùng nhóm. Khoảng 2 - 3 phút tiếp theo: Đại diện nhóm lên trình bày sơ đồ của nhóm mình. Thời gian còn lại, giáo viên cùng các học sinh góp y, đánh giá, trình chiếu sơ đồ mà giáo viên đã vẽ sẵn bằng phần mềm và cả bản vẽ Bản đồ tư duy trên giấy để các em đối chiếu, so sánh, chỉnh sửa lại cho hợp lí. Qua Bản đồ tư duy hệ thống kiến thức, giáo viên chốt lại những kiến thức cần nhớ, đặc biệt là các từ khóa và để học sinh hiểu và nắm vững kiến thức nhờ hình ảnh trên sơ đồ. Có thể nói, đây là một phương pháp giúp người học lưu kiến thức trong trí nhớ được sâu và dài hơn so với các phương pháp khác. Khi dạy bài 11- Lịch sử 12- Tổng kết Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945- 2000. Giáo viên cho học sinh lập Bản đồ tư duy theo 2 phần: Phần I/ Những nội dung chủ yếu của Lịch sử thế giới Hiện đại từ sau 1945 Phần II/ Xu thế phát triển của Thế giới sau Chiến tranh lạnh 4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm 4.1.Trước khi áp dụng phương pháp: Kết quả khảo sát bài kiểm tra lần I Lớp Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) 12a2 30 1 03% 5 17% 16 53% 8 27% 0 0 12a3 29 1 03% 5 17% 17 59% 6 21% 0 0 12a4 33 2 06% 6 18% 20 60,5% 5 15,5% 0 0 4.2. Sau khi áp dụng phương pháp: Kết quả khảo sát bài kiểm tra lần II Lớp Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) 12a2 30 3 10% 8 27% 16 53% 3 10 % 0 0 12a3 29 3 10% 8 28% 17 59% 1 03% 0 0 12a4 33 4 12% 10 30% 19 58% 0 0% 0 0 * Nhận xét: Sau thời gian áp dụng phương pháp mới, kết quả đạt được như sau: Tỉ lệ học sinh giỏi và khá tăng lên rõ rệt Tỉ lệ học sinh trung bình và yếu giảm xuống. 4.3 Một số bài tập thực hành vẽ Sơ đồ tư duy của học sinh lớp 12- TrườngTHPT số 1 Sa Pa: PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sử dụng thành thạo và hiệu quả Bản đồ tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Việc sử dụng các phần mềm mind mapping sẽ làm cho công việc lập Bản đồ tư duy dễ dàng và linh hoạt hơn, đồng thời, đây cũng là một bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của công tác dạy học trong những năm gần đây. Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. Trước đây, các tiết ôn tập chương một số giáo viên cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ, và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét. Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Lịch sử bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy - học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đẩy mạnh triển khai. Bản đồ tư duy một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế Bản đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy, hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Bản đồ tư duy. Việc vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT sẽ dần dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng Bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, xem phim minh họa có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở cấp THPT . 2. Kiến nghị Để đáp ứng được mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là với môn Lịch sử tôi có một số kiến nghị sau: - Về phía phụ huynh học sinh: Kiểm tra đôn đốc việc chuẩn bị bài, học bài của học sinh ở nhà. Tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tích cực trong việc vẽ Bản đồ tư duy trong học tập. - Về phía Tổ chuyên môn: Cần có những chuyên đề thảo luận về sử dụng Bản đồ tư duy để nâng cao chất lượng bài giảng - Về phía Nhà trường: Hỗ trợ tích cực cho giáo viên trong việc áp dụng phương pháp mới này vào trong thực tiễn. Và xây dựng thư viện Bản đồ tư duy để giáo viên và học sinh có thể khai thác, sử dụng. - Về phía ngành: Hỗ trợ thêm về phương tiện, thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác dạy học của giáo viên. Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi được rút ra trong qua trình giảng dạy môn Lịch sử 12 ở trường THPT số 1 Sa Pa. Rất mong được sự góp ý, đánh giá của các độc giả nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới giáo dục và giảng dạy bộ môn đạt hiệu quả cao. Tôi xin trân thành cảm ơn./. TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách giáo viên Lịch sử lớp 12- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 nâng cao- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách giáo viên Lịch sử lớp 12 nâng cao- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam 5. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng - Môn Lịch sử 12 Phan Ngọc Liên – Nguyễn Xuân Trường (Đồng chủ biên)– NXB Giáo dục 6. . Lập bản đồ tư duy (Tác giả Tony Buzan. Dịch giả Nguyễn Thế Anh - NXB Lao động Xã hội - 2008) 7. Phần mềm Bản đồ tư duy Buzan's iMindMap 5.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_ban_do_tu_duy_trong_day_hoc_li.doc
bia_skkn_hue.doc

