Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Lịch sử lớp 12, THPT

1. Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học lịch sử đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn xã hội. Thực trạng của việc dạy và học lịch sử đang là một đề tài “nóng” sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học. Trước sự quan tâm ấy, chúng tôi – những giáo viên dạy môn lịch sử luôn trăn trở về việc dạy học của mình. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử, làm sao để các em học sinh yêu thích môn lịch sử và học môn lịch sử ngày càng có hiệu quả hơn. Hiện nay nghành giáo dục vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực chủ động, tìm tòi, khám phá, lĩnh hội kiến thức mới. Vì vậy, mỗi giáo viên cần có sự chủ động, sáng tạo tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Hòa chung trong xu thế phát triển của xã hội ngày nay, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy là một việc làm rất cần thiết và mang tính tất yếu, góp phần rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất cần thiết của người công dân trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Vậy, làm thế nào để học sinh có hứng thú trong giờ học Lịch sử? Đó là câu hỏi mà mỗi thầy giáo, cô giáo luôn trăn trở trước khi lên bục giảng. Xuất phát từ thực tế và những điều kiện sẵn có của nhà trường, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm :" Sử dụng đồ dùng trực quan ứng dụng CNTT trong giờ học Lịch sử lớp 12, THPT ".

doc 16 trang SKKN Lịch Sử 08/11/2025 240
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Lịch sử lớp 12, THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Lịch sử lớp 12, THPT

Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Lịch sử lớp 12, THPT
 kéo vào theo sau chúng là bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu phá hoại cách mạng nước ta thể hiện qua khẩu hiệu "Diệt cộng. ''cầm Hồ' của chúng. Bọn Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền non trẻ của chúng ta. Đây là một nguy cơ lớn đối với chính quyền cách mạng. Ở phía Nam là hàng vạn quân Anh và núp bóng chúng là hàng nghìn tên lính Pháp đang lăm le quay trở lại xâm lược nước ta. Đến ngày 23/9 được quân Anh tạo điều kiện thì thực dân Pháp đã chính thức nổ súng xâm lược trở lại nước ta ở Nam Bộ.
 Như vậy thực chất quân đồng minh vào nước ta là để lật đổ chính quyền cách mạng
phục vụ mưu đồ cho bọn đế quốc, thực dân. Đây là một thách thức rất lớn mà chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt.Sau khi theo dõi đoạn phim trên sẽ giúp các em học sinh nắm bắt nhanh và khắc sâu kiến thức của bài học.
* Đoạn phim thứ hai ''Bầu quốc hội khoá I''
Đoạn này được sự dụng ở phần II Bước đầu xây dựng chế độ mới .
Sau khi đã giới thiệu ngày 6/1/1946 cả nước tiến hành tổng tuyển cử bầu quốc hội khoá I giáo viên cho học sinh theo dõi đoạn phim này để thấy được không khí nô nức của người dân khi cầm lá phiếu trên tay lần đầu tiên, thể hiện quyền tự do, dân chủ của mình đồng thời cũng là lá phiếu của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ủng hộ cách mạng với hơn 90% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu của khắp ba miền Bắc - Trung - Nam vào quốc hội đầu tiên của nhân dân ta - biểu tượng của khối đoàn kết toàn dân tộc. Sau đó đến ngày 02/3/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên thông qua danh sách Chính phủ và lập ban soạn thảo Hiến pháp. 
	Đoạn phim này sẽ tạo cho các em biểu tượng chân thực về chính quyền cách mạng và sự thông minh, khôn khéo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
* Đoạn thứ ba: Phong trào giải quyết nạn đói
	Đoạn này được sử dụng khi dạy Phần II mục 2 giải quyết nạn đói Đoạn phim sẽ cho các em thấy nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi ''Nhường cơm sẻ áo'' và ''Hũ gạo cứu đói'' của chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sôi nổi, nhiệt tình thể hiện sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân ta cùng nhau đùm bọc qua những ngày khốn khó với tinh thần tương thân, tương ái đồng bào ta đã chia sẻ từng nắm gạo giúp đồng bào vượt qua cơn hoạn nạn. Khi xem đoạn phim này sẽ giúp các em được hoà mình sống cùng với toàn dân tộc trong những ngày khó khăn và cảm nhận được sự ấm áp của lòng nhân ái, sự phấn khởi tin tưởng của toàn dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh.
* Đoạn phim thứ 4 ''Giải quyết nạn dốt'' nói về một lớp bình dân học vụ và phong trào học tập của nhân dân ta trong những năm 1945 - 1946. Đoạn này được sử dụng khi dạy Phần III mục : Khó khăn về kinh tế.
	Khi dạy mục này sau khi giới thiệu sự kiện ngày 8/9/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập như Bình dân học vụ và kêu gọi xoá nạn mù chữ. Giáo viên cho HS xem đoạn phim này để các em thấy sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân thông qua việc có hàng vạn người tham gia cổ vũ rầm rộ cho phong trào diệt giặc dốt. Đồng thời mọi tầng lớp nhân dân từ các cụ già cao tuổi đến các em chăn trâu tích cực tham gia học tập để biết chữ thậm chí có các bà mẹ người dân tộc thiểu số còn địu cả con nhỏ đến lớp học. Tiếng đánh vần i tờ từng chữ cái của những học viên lớp Bình dân học vụ cho ta thấy niềm xúc động, sự náo nức của một thời kì lịch sử của dân tộc trong những ngày đầu mới giành độc lập.
	Một lần nữa đoạn phim này sẽ tạo cho các em ấn tượng sâu đậm về bối cảnh đất nước trong những năm 1945 - 1946. Qua đó giúp các em thêm phấn khởi, tin tưởng vào công cuộc kháng chiến của nhân dân ta đồng thời ra sức học tập để noi gương thế hệ cha anh đi trước.
	Tóm lại việc ứng dụng công nghệ thông tin có rất nhiều cách khác nhau và đem lại nhiều tiện ích trong quá trình dạy học. Trên đây là một vài kinh nghiệm, thực tế giảng dạy của bản thân đã đem lại kết quả tích cực trong quá trình dạy học [4]
 3.2.4. Xây dựng và sử dụng lược đồ để khai thác nội dung bài học
	Ưu thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử là bằng các hiệu ứng giáo viên có thể làm cho học sinh thấy được sự sinh động trong diễn biến các trận đánh và thấy được sự quyết liệt trong mỗi sự kiện... Một bản đồ động sẽ hứng thú hơn nhiều so với bản đồ tĩnh, tuy nhiên việc thiết kế một bản đồ điện tử là một vấn đề rất khó làm đối với giáo viên. Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bài trong chương trình của bộ môn Lịch sử đặc biệt là các bài có diễn biến của phong trào cách mạng, các trận đánh lớn. tôi xin nêu ra một trường hợp ứng dụng cụ thể đó là:
Để dạy Bài 14: Phong trào cách mạng trong những năm 1930 - 1935. tôi sử dụng bản đồ động để mô tả minh hoạ cho phong trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh và sơ đồ điện tử để củng cố bài học. Tôi xin giới thiệu cách làm và sử dụng bản đồ động và sơ đồ điện tử trong bài như sau:
 1. Xây dựng và sử dụng bản đồ động
 a. Xây dựng: Để xây dựng và sử dụng bản đồ động thì cần có một bản đồ trên giấy của phong trào hoặc là bản đồ điện tử có sẵn. Ở đây tôi sử dụng bản đồ trong sgk (trang 92).
Bước 1: Trước hết ta dùng một máy quét nối với máy tính để quét bản đồ vào trong máy tính. Sau đó dùng các kỹ thuật vẽ trong Powerpoint để chỉnh sửa bản đồ theo nhu cầu, mục đích sử dụng (có thể phóng to, thu nhỏ hoặc cắt bớt một số phần).
Bước 2: Vẽ các ký hiệu trên bản đồ.
- Công việc này nhằm tạo ra các ký hiệu, cho xuất hiện theo ý đồ định sẵn phù hợp với diễn biến của phong trào theo đúng trình tự.
- Để vẽ các ký hiệu này ta vào Powepoint/AutoShaper rồi chọn các ký hiệu phù hợp. Ở đây tôi chèn hình ngôi sao n cánh để mô tả căn cứ cách mạng tại Thanh Chương và chọn hình ngôi sao màu vàng. Chèn hình đốm lửa để mô tả những địa điểm lan rộng của phong trào, chọn nền màu xanh.
Hình búa liềm, màu vàng để mô tả những nơi giành được chính quyền.
+ Hình lá cờ để biểu thị những nơi có công nhân hưởng ứng phong trào.
Sau khi đã vẽ xong các ký hiệu theo đúng ý đồ thì ta đặt hiệu ứng xuất hiện theo trình tự diễn biến của phong trào.
- Cách đặt hiệu ứng như sau:
+ Chọn ký hiệu cần đặt hiệu ứng ví dụ ngôi sao.
+ Ta chọn ngôi sao sau đó nháy chuột vào Slide show
+ Chọn Custom Animation 
+ Chọn Add Effect/Entrance.
Sau đó tuỳ chọn kiểu xuất hiện đối với ngôi sao là căn cứ khởi nghĩa Thanh Chương thì ta nên chọn hiệu ứng nhấp nháy to dần. Các ký hiệu còn lại ta đặt hiệu ứng theo cách tương tự như vậy sao cho các hiệu ứng của các ký hiệu xuất hiện theo đúng trình tự diễn biến của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. [2]
 b. Sử dụng: Sử dụng bản đồ động để minh họa 
 Bài 20 – Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc(1953-1954). MụcII. 2: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954).
Giáo viên hỏi học sinh: “Vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương? Sự hùng mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được biểu hiện như thế nào?” , giáo viên trình chiếu cho các em quan sátlược đồ khắc họa về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh của quân Pháp ở đây, kết hợp với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề, Lược đồ được xây dựng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có hiệu ứng sinh động, kèm theo hình ảnh và đoạn phim tư liệu miêu tả về cứ điểm, nên học sinh cảm nhận được các sự kiện lịch sử sâu sắc . 
 Trên cơ sở hiểu rõ lí do vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm hùng mạnh và biểu hiện về sự hùng mạnh của nó, học sinh cũng hình thành được khái niệm, thuật ngữ mới: Cứ điểm Điện Biên Phủ là gì? Khi dạy tới phần diễn biến của chiến dịch qua từng đợt với các phương tiện kỹ thuật hiệu ứng hỗ trợ giáo viên có thể cho học sinh thấy được bức tranh sống động của chiến dịch Điện Biên Phủ với những đợt tấn công của quân ta, sự viện trợ, rút chạy của Pháp-Mĩ trên chiến trường Điện Biên Phủ. Một lần nữa ta khẳng định một bản đồ động gây hứng thú nhiều với học sinh so với một bản đồ tĩnh. [1]
3.2.5. Sử dụng hệ thống bảng biểu điện tử để khai thác nội dung bài học:
Sử dụng bảng niên biểu, bảng so sánh, giúp các em khái quát nội dung sau mỗi phần, mỗi bài, mỗi giai đoạn lịch sử....Hình thức này phù hợp với phương pháp thảo luận nhóm, so sánh sự khác nhau....giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu sau đó trình bày và giáo viên đưa ra kết luận cuối cùng qua các bảng biểu.
*Ví dụ :
Sau khi dạy song - Bài 15 – Cuộc vận động dân chủ 1936-1939. giáo viên hướng dẫn học sinh So sánh sự khác nhau giữa cao trào dân chủ 1936 – 1939 với phong trào cách mạng 1930 – 1931?
 Nội dung
1930 - 1931
1936 – 1939
Kẻ thù
Đế quốc, phong kiến
( chiến lược)
Phản động thuộc địa Pháp và tay sai ( sách lược)
Mục tiêu
Độc lập dân tộc, người cày có ruộng ( lâu dài)
Tự do, cơm áo, hoà bình
( trước mắt)
Hình thức tập hợp lực lượng
Bước đầu thực hiện liên minh công – nông, tập trung chủ yếu ở Nghệ An – Hà Tĩnh
Thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương
Hình thức đấu tranh
Bãi công, biểu tinh, khởi nghĩa vũ trang
Hợp pháp công khai, nửa hợp pháp, nửa công khai
Lực lượng tham gia
Chủ yếu là nông dân, công nhân
Đông đảo các giai cấp tầng lớp.
* Nhận xét:
- Chủ trương của đảng thời kì 1936 – 1939 chỉ mang tính chất sách lược song rất kịp thời và phù hợp với tình hình, tạo được cao trào đấu tranh sôi nổi. Điều đó chứng tỏ Đảng ta đã trưởng thành đủ khả năng đối phó với mọi tình hình diễn biến phức tạp, đưa cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển. [4]
3.2.6. Xây dựng và sử dụng sơ đồ điện tử để minh họa, củng cố bài học.
Phương pháp này cũng có thể được áp dụng trong rất nhiều bài, tuy nhiên tôi chỉ nêu ra ví dụ bài 14: Phong trào cách mạng 1930 - 1935. Dùng để củng cố bài học.
a. Cách xây dựng:
Trước hết ta dùng các thao tác trên Power point để vẽ các bộ phận của sơ đồ như 
sau:
Xô Viết Nghệ Tĩnh
Phong trào 1930-1931
Mâu thuẫn
Hậu quả khủng hoảng kinh tế
Nhân dân ta với thực dân pháp
 H5 
 H4	 
 H3 
 H2 
 H1 
 	Để vẽ được sơ đồ như trên ta nháy chuột vào các ô có hình chữ nhật và hình mũi tên trên màn hình rồi vẽ lên màn hình.
	Để viết chữ vào sơ đồ ta nháy vào hình chữ nhật cần viết rồi nhấn chuột phải chọn Add text rồi viết chữ theo nội dung như trên.
	Sau đó ta chọn hiệu ứng xuất hiện lần lượt cho các bộ phận trong sơ đồ từ thấp đến cao (cách làm giống như ở phần xây dựng bản đồ động ở trên). [2]
b. Cách sử dụng:
Sau khi tạo xong sơ đồ ta sử dụng để củng cố như sau: Qua bài này chúng ta thấy rằng do hậu quả khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 thực dân Pháp đã tăng cường bóc lột nhân dân ta (giáo viên nhấp chuột để H1 và H2 hiện ra) điều đó đã làm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp càng trở lên gay gắt hơn.
Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của phong trào cách mạng 1930 – 1931 ( cho H3 hiện ra) trong đó đỉnh cao là việc thành lập chính quyền cách mạng theo kiểu Xô Viết ở các địa phương 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với nhiều chính sách tích cực, tiến bộ. (cho H4 xuất hiện). Vậy chính quyền ấy có ý nghĩa gì, phong trào cách mạng tiếp sau diễn ra như thế nào thì tiết sau chúng ta tìm hiểu tiếp còn tiết này thì dừng lại ở đây.Việc sử dụng sơ đồ như trên giúp các em nắm vững được nội dung cốt lõi của bài một cách nhanh chóng, đơn giản có thể khắc sâu được kiến thức cho các em. Phương pháp này cũng có thể sử dụng cho nhiều bài học [1]
 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,đồng nghiệp và nhà trường
 4.1 Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12a2
31
1
3.22
14
45.16
15
48.38
1
3.22
0
0
12a3
41
0
0
10
24.39
25
60.97
6
14.63
0
0

 4. 2 Sau khi áp dụng:
Qua thực tế áp dụng cho thấy phương pháp này đã đem lại nhiều hiệu quả cao trong dạy học như:
- Tạo ra tính trực quan, sinh động giúp các em dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức.
- Xoá bỏ cảm giác khô khan giáo điều trong các giờ học Lịch sử để môn học này trở nên gần gũi với các em hơn.
- Kết quả thực tế cho thấy đa số các em học sinh đều tỏ ra hứng thú với phương pháp này, tạo ra sự tập trung chú ý cao độ, từ đó giúp các em khắc sâu biểu tượng về sự kiện hiện tượng lịch sử, từ đó các em có thể thuộc bài ngay tại lớp.
- Học sinh Khá - Giỏi: nắm vững, vận dụng tốt kiến thức kỹ năng, học bài, làm bài rất tốt.
- Học sinh trung bình: nắm được kiến thức cơ bản làm bài tương đối tốt.
- Một số học sinh chưa chăm học, làm bài chưa tốt, kết quả không cao.
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12a2
31
3
9.67
18
58.06
10
32.25
0
0
0
0
12a3
41
1
2.43
15
36.58
24
58.53
1
2.43
0
0

Từ số liệu thực tế học tập của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến ta có thể kết luận rằng: Hiệu quả của giờ học khi áp dụng phương pháp này cao hơn hẳn và có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống.
 III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
	Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học giúp học sinh được quan sát hình ảnh sinh động, được nghe giảng và tư duy lịch sử mà những khoảng cách về thời gian, không gian của sự kiện dường như đang xích lại gần với khả năng nhận thức của các em hơn. Đồng thời, việc sử dụng những loại đồ dùng trực quan có liên quan đến phương tiện kĩ thuật hiện đại không chỉ góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể cho học sinh, miêu tả bề ngoài sự kiện, mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện.
	Để việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới theo yêu cầu phương hướng đổi mới có hiệu quả, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một yêu cầu cần thiết trong công tác dạy học. Học sinh có điều kiện chủ động tích cực tham gia vào quá trình tự nhận thức lịch sử một cách tốt nhất và có hứng thú học tập bộ môn.
2. Một số kiến nghị:
	Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử nhằm gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh là một việc làm rất cần thiết và đang được quan tâm, nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức Lịch sử cho học sinh trong thời kỳ hội nhập. Để làm được điều đó bản thân tôi có một số kiến nghị như sau:
- Cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm giữa đồng nghiệp về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
- Nhà trường nên trang bị máy tính, đầu chiếu đa năng tới các phòng học để ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học một cách thường xuyên.
	Tuy thời gian nghiên cứu chưa nhiều, phạm vi đề tài chưa sâu. Nhưng qua thực tiễn bản thân áp dụng phương pháp này và đã đạt được nhiều kết quả tốt , tôi trân thành mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm này với các bạn đồng nghiệp. Hy vọng rằng nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học Lịch sử nói riêng và quá trình dạy học nói chung. Với năng lực bản thân có hạn cộng với kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, vì vậy sáng kiến của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để cho sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
	Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THPT Quan Hóa đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2017
 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của 
 mình viết, không sao chép nội dung của 
 người khác.
 Trương Thị Thương

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_su_dung_do_dung_truc_quan_ung_dung_con.doc