Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy tính tích cực và chủ động cho học sinh trong giảng dạy phần Lịch sử thế giới - Sách giáo khoa Lịch sử 12

1.Lí do chọn đề tài .

Như chúng ta đã biết những năm gần đây chất lượng dạy Sử và học Sử đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn xã hội. Trong bối cảnh đó với nhiệm vụ là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử luôn trăn trở về việc dạy của mình, làm sao để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử, làm sao để các em học sinh yêu thích môn học này trong bối cảnh mà những đòi hỏi của nghề nghiệp trong tương lai khiến rất nhiều học sinh không còn mặn mà, tâm huyết với khối C nói chung và đặc biệt là môn Lịch sử nói chung.

Cũng như các môn học khác, môn Lịch sử có nhiệm vụ và khả năng góp phần vào việc thể hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ thông nói chung. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học Lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cuộc sống. Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo cho học sinh

Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng Lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học.

doc 21 trang SKKN Lịch Sử 08/11/2025 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy tính tích cực và chủ động cho học sinh trong giảng dạy phần Lịch sử thế giới - Sách giáo khoa Lịch sử 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy tính tích cực và chủ động cho học sinh trong giảng dạy phần Lịch sử thế giới - Sách giáo khoa Lịch sử 12

Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy tính tích cực và chủ động cho học sinh trong giảng dạy phần Lịch sử thế giới - Sách giáo khoa Lịch sử 12
 : Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên xô để lại bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước ?
 Đây là câu hỏi liên hệ khá hóc búa với học sinh vì các em chưa học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1975 -2000, tuy nhiên khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ cuả Liên Xô và Đông Âu thì các em cũng có thể vận dụng kiến thức bài học để tư duy và đưa ra cảm nhận và liên hệ của riêng mình về bài học của Việt Nam trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, sau đó giáo viên có thể đưa ra một số bài học kinh nghiệm :
 + Bài học về xóa bỏ nền kinh tế quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường
 + Bài học về ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng trước sự chóng phá của bên ngoài.
 + Bài học về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Bài 3. Các nước Đông Bắc Á
 Khi dạy phần II mục 3 : Công cuộc cải cách mở cửa từ 1978
 Câu hỏi : Thành công trong công cuộc cải cách mở của của Trung Quốc để lại bài học gì cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới đat nước hiện nay ?
 Đây là câu hỏi khá nhạy cảm trong bối cảnh hiện nay khi mà vấn đề Biển đông đang làm quan hệ Việt – Trung có những diễn biến khá phức tạp và phần nào thực tế đó tác động tới tâm lí học sinh và các em có những nhận thức không tốt về Trung Quốc, tuy nhiên giáo viên cũng cần giúp học sinh nhận thức được Trung Quốc và Việt Nam có cùng thể chế chính trị, có nhiều điểm tương đồng về văn hóa.. vì thế thành công trong công cuộc cải cách mở của của Trung Quốc là một bài học để Việt Nam có thể quan tâm trong công cuộc đổi mới đất nước. Học sinh tu duy và trả lời, sau đó giáo viên góp ý, bổ sung một số bài học sau:
 + Bài học về kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa
 + Bài học về chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường 
Bài 4. Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
 Khi dạy phần I, mục 3 : Sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN, giáo viên có thể đặt câu hỏi ở cuối bài.
Câu hỏi : Việt Nam gia nhập ASEAN đã tạo ra thời cơ và thách thức gì ?
 Đây là câu hỏi khó nhưng khá thú vị, học sinh tư duy và trình bày suy nghĩ của mình sau đó giáo viên bổ sung:
 Thời cơ :
 + Tạo điều kiện cho Việt Nam tăng cường hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực kinh trế, văn hóa, giáo dục, y tế..
 + Có điều kiện học hỏi và rút ngắn khoảng cách về khoa học kỹ thuật..
 Thách thức:
 + Dễ bị đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc
 + Nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học kỹ thuật
 Câu hỏi : Quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN hiện nay như thế nào ? 
 Nếu sử dụng giáo án điện tử, với câu hỏi này giáo viên có thể cung cấp cho học sinh hình ảnh về quan hệ hợp tác của Việt Nam và ASEAN để khắc hoạ cho học sinh rõ hơn .
 Sau khi học sinh nghiên cứu trả lời, giáo viên có thể nhấn mạnh: Trong suốt quá trình tham gia hội nhập ASEAN, Việt Nam luôn nỗ lực hết mình vì sự phát triển và lớn mạnh của Hiệp hội với ý thức về tầm quan trọng chiến lược của ASEAN đối với Việt Nam: một Hiệp hội ASEAN đoàn kết, vững mạnh và thống nhất sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển ở khu vực. Với phương châm chủ đạo đó, một thập kỷ rưỡi qua, Việt Nam đã chủ động, tích cực cùng các nước thành viên thúc đẩy hợp tác, tăng cường đoàn kết và liên kết ASEAN, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vai trò, vị thế quốc tế của ASEAN, cùng ASEAN vượt qua những giai đoạn thăng trầm, qua đó, góp phần không nhỏ vào những thành công ASEAN có được ngày hôm nay.
Bài 6. Nước Mĩ
 Ở phần cuối bài giáo viên có thể đưa ra câu hỏi:
 Câu hỏi : Em có biết quan hệ giữa Mĩ và Việt Nam hiện nay như thế nào không ?
 Sau khi học sinh suy nghĩ và trả lời theo hiểu biết của mình, nếu bài này sử dụng giáo án điện tử giáo viên có thể trình chiếu cho học sinh một số hình hành ảnh trong quan hệ Việt – Mĩ hiện nay và khắc họa thêm để học sinh rõ:
 Các em đều biết trong quá quan hệ Mĩ – Việt Nam hết sức căng thẳng, đế quốc Mĩ đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam từ 1954-1975 gây bao mất mát đau thương cho dân tộc. Nhưng với chính đối ngoại Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, khép lại quá khứ để hướng tới tương lai thì hiện nay quan hệ Việt – Mĩ tốt đẹp, là đối tác chiến lược trên tất cả các lĩnh vực.
Bài 7. Tây Âu
Khi dạy mục V : Liên minh Châu Âu ( EU), ở phần cuối bài giáo viên có thể đưa ra câu hỏi:
Câu hỏi : Em có biết mối quan hệ giữa Việt Nam và EU hiện nay như thế nào không ? 
 Đây là câu hỏi khó mà khi đặt câu hỏi giáo viên cũng có thể nghĩ tới tình huống học sinh rât khó trả lời vì vạy nên cho học sinh tiếp cận câu hỏi này trước và các em có điều kiện về nhà tìm hiểu để có thể có được những hiểu biết nhất định để phát biểu, sau đó giáo viên định hướng cho học sinh một số ý cơ bản:
 Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam – EU đã phát triển lớn mạnh. EU đã trở thành nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất cho Việt Nam và đang tích cực hỗ trợ Việt Nam trong những ngành và khu vực ưu tiên như: phát triển con người, hỗ trợ cho quá trình cải cách kinh tế, xã hội và hỗ trợ sự hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới.  
Bài 8. Nhật Bản. 
 Sau khi dạy xong nội dung bài học, giáo viên có thể đặt câu hỏi :
Câu hỏi 1: Bài học từ sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay ?
 Cũng như bài học từ Trung Quốc, sự thần kỳ của Nhật Bản là một mẫu hình cho tất cả các nước trên thế giới phải ngưỡng mộ và tham khảo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong đó có Việt Nam tuy nước ta và Nhật Bản có thể chế chính trị khác nhau song có rất nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa. Học sinh suy nghĩ và đưa ra một số ý kiến của mình sau đó giáo viên gợi ý cho học sinh một số bài học quan trọng :
 + Coi trọng đầu tư giáo dục, phát triển khoa học công nghệ.
 + Phát huy nhân tố con người, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tự lực tự cường.
 + Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế
 + Biết thâm nhập thị trường thế giới..
 Câu hỏi 2: Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam hiện nay như thế nào ?
 Sau khi học sinh suy nghĩ và trả lời theo hiểu biết của mình, nếu bài này sử dụng giáo án điện tử giáo viên có thể trình chiếu cho học sinh một số hình hành ảnh trong quan hệ Việt - Nhật hiện nay và khắc họa thêm để học sinh rõ.
 Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21/9/1973 quan hệ giữa Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên trên. Qua đó giúp cho học sinh nhận thấy mặc dù trong quá khứ quan hệ 2 nước là không tốt đẹp ( trong chiến tranh thế giới thứ 2 Nhật Bản xâm lược và cai trị nước ta) nhưng trên tinh thần khép lại quá khứ hướng tới tương lai, ngày nay mối quan hệ 2 nước là rất tốt đẹp.
Bài 9. Quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ Chiến tranh lạnh.
 Khi dạy mục III: Xu thế hòa hoãn Đông – Tây và chiến tranh lạnh chấm dứt, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
 Câu hỏi 1 : Xu thế hòa hoãn Đông – Tây tác động như thế nào đối với quan hệ giữa các nước ASEAN và Việt Nam ?
 Dựa vào bài học Các nước Đông nam Á trước đó học sinh có thể liên hệ cùng với những hiểu biết của mình, các em có thể trả lời theo hiểu biết của mình, sau đó giáo viên góp ý, bổ sung;
 Trong xu thế chung của thế giới mối, quan hệ căng thẳng giữa ASEAN và Việt Nam trước đây dần chuyển sang đối thoại hòa dịu, những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam với mông muốn trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã được hiện thực hóa vào năm 1995, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này.
 Bài 10. Cách mạng khoa học - Công nghệ và xu thế toàn cầu hoá nửa sau thế kỉ XX
 Khi dạy mục II: Xu thế toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó, giáo viên có thể đặt câu hỏi
Câu hỏi 2 : Việt Nam đứng trước thời cơ và thách thức gì trong xu thế toàn cầu hóa ? 
 Đây là câu hỏi mà học sinh có thể dựa vào kiến thức của bài học và tư duy để trả lời theo hiểu biết của mình, sau đó giáo viên có thể giúp cho học sinh hiểu rõ hơn thời cơ và thách thức của Việt Nam.
Thời cơ :
 + Có điều kiện mở rộng, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế.
 + Có thể khai thác nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài.
Thách hức :
 + Trình độ phát triển kinh tế, dân trí và chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp
 + Sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường thế giới
 + Phân hóa giầu nghèo ngày càng sâu sắc, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, nguy cơ xâm phạm độc lập, chủ quyền.
Câu hỏi : Là công dân tương lai em phải làm gì trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay hiện nay ?
 Đây là câu hỏi mang tính định hướng lý tưởng và mục đích sống cho học sinh trong xu thế hiện nay, giáo viên có thể linh động hỏi một nhóm học sinh để các em nêu lên những quan điểm của riêng mình sau đó định hướng cho các em những việc cần phải làm 
 Thanh niên các em là chủ nhân tương lai của đất nước, các em cần thấy được xu thế toàn cầu hóa ngày càng trở nên sâu sắc và tác động một cách sâu rộng tới nước ta hiện nay vì vậy là một công dân tương lai các em cần có gắng học tập tốt để làm chủ công nghệ, luôn rèn luyện để trở thành người có ý chí nghị lực, trở thành người được đào tạo có chất lượng để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. nay
 Trên đây là những bài trong chương trình Lịch sử thế giới – SGK 12 mà tôi nghiên cứu ứng dụng hệ thống câu hỏi phát huy tích tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh thông qua dạng câu hỏi liên hệ thực tiễn. 
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
 Từ thực tiễn nghiên cứu và áp dụng trong giảng dạy trong vài năm gần đây đã cho thấy sản phẩm nghiên cứu của tôi đã đảm bảo tính khả thi.Với việc cung cấp cho học sinh hệ thống câu hỏi liên hệ thực tiễn sinh động đã khơi dạy tính tò mờ thích khám phá những điều mới mẻ của học sinh, thu hút được học sinh trong những giờ học lịch sử. 
 Với đặc điểm học sinh nhà trường chất lượng đầu vào thấp, đa phần các em tiếp nhận kiến thức cơ bản còn khó khăn thì những câu hỏi mang tính nhận biết và vận dụng thì càng khó khăn hơn nữa và người nghiên cứu đề tài cũng chỉ có một tham vọng là những câu hỏi liên hệ thực tiễn trên chỉ áp dụng đối với học sinh có nhận thức khá trở lên. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy việc áp dụng hệ thống câu hỏi trên đã nhận được sự quan tâm và thu hút của đa số học sinh trong lớp, khi đặt các em vào tình huống có vấn đề các em đã chủ động suy nghĩ và lựa chọn cho mình những câu trả lời khá thú vị điều mà trước đây không thể có nếu như giáo viên cứ đi theo một lối mồn là sử dụng những câu hỏi đã có đáp án săn trong sách giáo khoa và học sinh nhìn sách giáo khoa để trả lời, không hề có sự vận động trí não, không hề có sự tư duy, sáng tạo. 
Sau mỗi bài học với việc cung cấp hệ thống câu hỏi liên hệ thực tiễn đã hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, đánh giá, khái quát, liên hệ vào thực tiễn học tập và lao động của bản thân qua đó góp phần định hướng mục đích và lý tưởng sống cho học sinh trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm gần đây, tôi luôn được nhà trường nhà trường phân công dạy lớp 12, đó là một thuận lợi để tôi nghiên cứu, khảo nghiệm đề tài của mình vào thực tiễn. Kết quả khả quan trong đề tài nghiên cứu của tôi được minh chứng qua kết quả từ phiếu thăm dò học sinh và kết quả trong làm bài kiểm tra.
 - Về kết quả từ phiếu thăm dò sự hứng thú của học sinh
 + Năm học 2013 -2014: ( Trước khi nghiên cứu và ứng dụng )
 Lớp 

Sĩ số 
 Thái độ của học sinh
 Hứng thú với bài học 
 Không hứng thú với bài học 
SL
%
SL
%
 12A
 43
24
55,8
19
44,2
 12C
 42
20
47,6
22
52,4

+ Năm học 2014 -2015: ( Sau khi nghiên cứu và ứng dụng)
 Lớp

Sĩ số
 Thái độ của học sinh
 Hứng thú với bài học 
 Không hứng thú với bài học 
SL
%
SL
%
 12B
 44
36
81,8
8
18,2
 12C
 41
35
85,3
6
14,7

 - Về kết quả điểm sau những bài kiểm tra ( Kiểm tra 1 tiết)
 + Năm học 2013 -2014: ( Trước khi nghiên cứu và ứng dụng )
Lớp 
Sĩ số 
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
 12A
 43
0
0
13
30,2
29
67,4
2
2,4
0
0
 12C
 42
1
2,3
14
33,4
26
62
1
2,3
0
0
+ Năm học 2014 -2015: ( Sau khi nghiên cứu và ứng dụng)
Lớp 

Sĩ số 
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
 12B
 44
2
4,5
24
54,5
18
41
0
0
0
0
 12C
 41
6
14,6
26
63,4
9
22
0
0
0
0
 Kết quả đạt được trong nghiên cứu và giảng dạy của bản thân là cơ sở để tôi mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp và nhận được sự đánh giá tích cực, từ năm học 2015-2015 đề tài của tôi đac được cả nhóm chuyên môn Lịch sử trong nhà trường ứng dụng rộng rãi trong dạy học và cũng thu được những kết quả tốt đẹp. Đó là động lực để những năm tiếp theo tôi tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi nghiên cứu của đề tài không chỉ ở phần Lịch sử thế giới lớp 12 mà còn rộng hơn nữa.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
 Sử dụng câu hỏi liên hệ trong dạy học Lịch sử để phát huy tính tích cực, chủ động trong học cho học sinh trung học phổ thông hiện nay là rất cần thiết. Vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử. Tuy nhiên đặt câu hỏi như thế nào để phát huy trí thông minh, tính tích cực trong học tập của học rõ ràng không phải là vấn đề đơn giản và để việc sử dụng hệ thống câu hỏi nói trên có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải có một quá trình nghiên cứu khoa học, nghiêm túc và đặc biệt là phải tâm huyết với nghề, tâm huyết với học sinh. 
 Nội dung trình bày trong đề tài chỉ là kinh nghiệm của bản thân, và phạm vi nghiên cứu cũng bó hẹp trong một phần lịch sử nhất định, trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài được hoàn chỉnh, đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy lịch sử, nhằm góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử ở trường THPT.
2. Kiến nghị
 - Với nhà trường: Nhà trường tiếp tục tạo mọi điều kiện tốt nhất để những ý tưởng mới, sáng tạo và hiệu quả được đưa vào giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của bộ môn Lịch sử nói riêng và các môn học khác nói chung. Giáo viên bộ môn tiếp tục cùng với người nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu phát triển mở rộng đề tài trên phạm vi rộng hơn vàcó tính ứng dụng rộng rãi hơn. 
 - Với Sở Giáo dục và Đào tạo: Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, trao đổi về chuyên môn, phương pháp giảng dạy, để giáo viên giảng dạy Lịch sử được trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 27 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Mai Đại Chính

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 hiện hành. 
2- Lý luận dạy học của Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị - NXB Giáo dục 2004.
3- Tạp chí nghiên cứu lịch sử.
4- Con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Ngô Minh Oanh NXB Giáo dục năm 2008. 	

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_su_dung_he_thong_cau_hoi_phat_huy_tinh.doc