Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT

Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có vị trí, chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Nhưng hiện nay học sinh lại chưa chú trọng học môn này. Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân gây nên. Nhưng phải thừa nhận một nguyên nhân rất quan trọng là do kết quả, chất lượng giảng dạy của chính những giáo viên dạy lịch sử hiện nay, đặc biệt là việc duy trì kiểu dạy truyền thống “thầy đọc, trò chép”, nhồi nhét kiến thức, học sinh thụ động trong tiếp thu kiến thức. Từ đó có thể thấy việc xây dựng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh qua những giờ học lịch sử rõ ràng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cũng hết sức nặng nề của người giáo viên dạy môn lịch sử.

Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử là một vấn đề quan trọng hiện nay nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bài học.Trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng có nhiều đồ dùng trực quan với các cách sử dụng khác nhau, nhưng đều có tác dụng nâng cao hiệu quả bài học. Sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học Lịch sử là một phương pháp trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những hình học đơn giản, diễn tả tổ chức một cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, một vấn đề lịch sử, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử… giúp cho học sinh ghi nhớ và hiểu bài một cách nhanh chóng .

doc 21 trang SKKN Lịch Sử 11/11/2025 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT
t của lịch sử là phải gắn với cuộc sống, cuộc sống qua các thời kỳ lịch sử và cuộc sống hôm nay, lại chưa được quan tâm và phát huy. Tóm lại là cách trình bày lịch sử khô khan, đánh giá lịch sử còn áp đặt chủ quan, nặng về lý luận, ít có các câu chuyện sinh động về một sự kiện lịch sử, về một nhân vật lịch sử và như vậy, học sinh không thích học là hệ quả tất yếu.
 Và cuối cùng, phương pháp dạy học còn nhiều vấn đề. Đây là nguyên nhân dễ nhận thấy nhất và cũng được nói đến nhiều nhất nhưng mặt khác đó cũng lại là nguyên nhân khó khắc phục nhất. Khi nhắc đến nguyên nhân này, người ta chỉ làm một việc đơn giản duy nhất là đổ lỗi cho giáo viên. Nhưng suy cho cùng thì giáo viên cũng chỉ là người chịu hậu quả của một nền giáo dục lạc hậu đã kéo dài mà thôi. “Thay đổi một quan niệm khó hơn phá vỡ một quả bom nguyên tử”. Tất cả giáo viên đều biết rất rõ về điều này nhưng với hoàn cảnh hiện nay họ gần như không có lựa chọn khác.
Trước nhiều nguyên nhân trên, Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo đang có rất nhiều giải pháp về cơ chế, chính sách để khắc phục. Còn những người trực tiếp dạy lịch sử như chúng tôi cũng đang cố gắng gạt qua sự “mặc cảm” để cố gắng tìm ra phương pháp dạy học đưa lại hiệu quả tốt nhất, làm cho học sinh phát huy được tính chủ động, sự hứng thú, nhất là đối với lịch sử dân tộc ta. Vì thế, tôi chọn đề tài “ Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử ” nhằm góp phần cải thiện cách dạy và học môn Lịch sử hiện nay.
 II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 12
 Chương trình lịch sử lớp 12 gồm 2 phần: 
- Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000
- Lịch sử việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 
Nội dung học khá dài so với chương trình lớp 11, các phần này kế tiếp chương trình lớp 11. Khi học tập đòi hỏi học sinh không chỉ nắm những kiến thức từng giai đoạn, từng nội dung cụ thể, mà còn phải tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự kiện trong sự phát triển chung. Học sinh phải biết sử dụng kiến thức đã học để tiếp nhận kiến thức mới, biết quá khứ để tìm hiểu hiện tại. Yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức cơ bản, bao gồm những sự kiện, nhân vật lịch sử, không gian, thời gian  Để sử dụng phương pháp trực quan bằng việc sơ đồ kiến thức lịch sử, trước hết, giáo viên cần xác định được trọng tâm của một mục, một tiết dạy. Trên cơ sở đó tiến hành sơ đồ hóa kiến thức phù hợp. 
Tuy nhiên việc tiến hành sơ đồ hóa kiến thức của một vấn đề, một mục, hoặc một bài phải linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của một bài học, thời lượng của tiết học.
 Giáo viên có thể đưa hình thức sơ đồ hóa vào cuối một bài, một mục, hoặc lồng ghép các mục có mối quan hệ với nhau. Để có được một sơ đồ hóa kiến thức, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo, có sự sắp xếp kiến thức, số lượng câu chữ phù hợp, đồng thời phải đảm bảo về tính thẩm mĩ.
Dưới đây là một số sơ đồ kiến thức lịch sử được sử dụng ở một bài hoặc một mục:
1. Khi dạy phần I. Hội nghị Ianta(2/1945) và những thỏa thuận của ba cường quốc - Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1945 - 1949), SGK Lịch sử 12 Cơ bản, giáo viên sử dụng sơ đồ hóa kiến thức H.1. kết hợp với những câu hỏi phù hợp học sinh dễ dàng nắm được kiến thức về Hội nghị Ianta. 
VẤN ĐỀ CẤP BÁCH CỦA THẾ GIỚI
TIÊU DIỆT PHÁT XÍT NHANH
THIẾT LẬP TRẬT TỰ THẾ GIỚI
PHÂN CHIA THÀNH QUẢ CHIẾN TRANH
HỘI NGHỊ IANTA
(04-11/2/1945)
MỤC TIÊU TIÊU DIỆT PHÁT XÍT
THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC
GIẢI GIÁP PHÁT XÍT
PHẠM VI ẢNH HƯỞNG
TRẬT TỰ HAI CỰC IANTA
H.1. Sơ đồ kiến thức Hội nghị Ianta 
Ở phần II. Sự thành lập Liên Hợp Quốc, giáo viên cũng có thể sử dụng sơ đồ hóa kiến thức và kết hợp với những câu hỏi phù hợp để học sinh nắm được toàn bộ kiến thức về tổ chức Liên Hợp Quốc. Kết hợp với việc dùng sơ đồ Bộ máy tổ chức Liên Hợp Quốc giáo viên có thể trình bày thêm về sáu quan cơ chính và các tổ chức chuyên môn khác giúp việc cho Liên Hợp Quốc. Đó cũng là những điểm trọng tâm trong phần tổ chức Liên Hợp Quốc. Cũng thông qua sơ đồ Bộ máy tổ chức Liên Hợp Quốc, giáo viên yên cầu học sinh nêu nhận xét vai trò của Liên Hợp Quốc để hoàn thành sơ đồ kiến thức Liên Hợp Quốc.
LIÊN HỢP QUỐC
(24/10/1945)
MỤC ĐÍCH
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ HỮU NGHỊ, HỢP TÁC
DUY TRÌ HÒA BÌNH
NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
TOÀN VẸN LÃNH THỔ, ĐỘC LẬP CHÍNH TRỊ
BÌNH ĐẲNG CHỦ QUYỀN, TỰ QUYẾT DÂN TỘC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
CHUNG SỐNG HÒA BÌNH, NHẤT TRÍ 5 NƯỚC LỚN
KHÔNG CAN THIỆP CÔNG VIỆC NỘI BỘ
VAI TRÒ
DUY TRÌ HÒA BÌNH, AN NINH
GIÚP ĐỠ CÁC DÂN TỘC
THÚC ĐẨY QUAN HỆ HỮU NGHỊ, HỢP TÁC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, XUNG ĐỘT
H.2. Sơ đồ Về tổ chức Liên Hợp Quốc
2. Khi dạy mục 3 : Những chuyển biến về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam (Bài 12. Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925) Sử dụng sơ đồ ( trang 10)
 Trước khi khai thác nội dung của mục này, giáo viên phát cho mỗi bàn một sơ đồ để trống. Tiếp theo, gọi một học sinh đọc các nội dung trong SGK, sau đó giáo viên hướng dẫn các em điền các thông tin vào sơ đồ: Các ô còn để trống và được mã hóa bằng số (1), (2)...thể hiện thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp. Ô có đường kẻ đậm là ô có nội dung quan trọng nhất.
 Cuối cùng, gọi đại diện các nhóm trả lời và nhận xét. Có thể, giáo viên vẽ sơ đồ lên bảng, rồi gọi hai hoặc ba học sinh lên điền các thông tin. Giáo viên bổ sung và nhận xét.
3. Khi dạy Mục II: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, (Bài 13. Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1930 ) Sử dụng sơ đồ (trang 12)
 Giáo viên cũng thực hiện theo tuần tự như ở phần 1.1. Nhấn mạnh: Dưới tác động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, phong trào dân tộc dân chủ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Thực tế này đòi hỏi, VNCMTN phải “lột xác”, tức là phải thành lập một đảng vô sản để lãnh đạo quần chúng. Nhưng, chỉ có một số hội viên của VNCMTN nhận thức được yêu cầu này. Từ đó làm cho VCMTN bị phân liệt.
 Ảnh hưởng ngày càng lớn của VNCMTN làm cho đảng Tân Việt bị phân hóa.
 Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ để thể hiện nội dung của mục 1 và 2. Từ đó học sinh sẽ dễ nắm kiến thức về quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cúng như nội dung và ý nghĩa của Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
4. Khi dạy Mục: Hội nghị BCHTW Đảng CS Đông Dương tháng 11 năm 1939. ( Bài 16. Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám(1939-1945), mục II) sử dụng sơ đồ: HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG THÁNG 11/1939 (trang 13)
 Giáo viên hướng dẫn học sinh thể hiện những kiến thức cơ bản trên khung sơ đồ. Giáo viên đặt câu hỏi: Điểm khác cơ bản của Hội nghị này với Hội nghị BCHTW Đảng tháng 7 năm 1936?. 
GV giải thích: Hội nghị tháng 7/1936, đề ra mục tiêu đấu tranh trước mắt là đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình ( tạm gác độc lập dân tộc). Con đến Hội nghị này, mục tiêu đấu tranh là đòi độc lập dân tộc ( tạm gác nhiệm vụ dân chủ) 
5. Để dạy Mục 3: Hội nghị BCHTW Đảng CS Đông Dương tháng 5 năm 1941. ( Bài 16. Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám(1939-1945) mục II) sử dụng sơ đồ: HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG LẦN VIII (5/1941) ( trang 15)
 Qua Hội nghị này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được tầm quan trọng của Hội nghị: Đây là Hội nghị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì, những tư tưởng của Người đã bắt đầu được thể hiện. Đó là: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc và vấn đề dân tộc. Hội nghị khẳng đinh: “ Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn phải chịu kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. 
 Vấn đề dân tộc được thể hiện: Thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh( Việt Minh) thay Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. 
Để dạy Bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946” Sử dụng sơ đồ ( trang 16, 17, 18)
 Đây là bài có nhiều nội dung, vì vậy việc sử dụng sơ đồ là rất cần thiết. Giáo viên hướng dẫn học sinh tập trung vào cá phần trọng tâm để phân tích. Đây là khoảng thời gian nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ gặp vô vàn khó khăn và thử thách. Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy cơ mất còn. Đây cũng là giai đoạn thể hiện bản lĩnh chính trị, tài ngoại giao của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại sơ đồ trang 14, ô (1) kẻ đậm thể hiện nội dung quan trọng nhất: Mặc dù ta không yêu cầu được Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam, nhưng chúng ta đã buộc chúng phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do.
Sự phân hóa xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Các giai cấp cũ
Các giai cấp mới
Nông dân
Tư sản
Địa chủ phong kiến
Công nhân
Tiểu tư sản
(3)
(7)
.
(4)
Dân tộc
Mại bản
Đại địa chủ
Địa chủ vừa và nhỏ
(1)
(5)
(6)
.
(2)
.
 Rút ra mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: 
 SỰ XUẤT HIỆN 3 TỔ CHỨC CỘNG SẢN NĂM 1929 VÀ ĐẢNG CS VIỆT NAM RA ĐỜI
TÂN VIỆT CM ĐẢNG
(1925)
Hội VNCMTN
(6/ 1925)
	 Một bộ phận gia nhập 
 Phân liệt
Đông Dương CS liên đoàn (9/1929)
Đông Dương CS đảng (6/1929)
An Nam CS đảng (8/1929)
	3/2/1930	
Đảng Cộng sản Việt Nam
(3/2/1930)
 3/2/1930 24/2/1930	
Cương lĩnh chính trị tháng 2/1930
Vị trí CMVN
Vai trò lãnh đạo
Lực lượng chiến lược CMVN
Nhiệm vụ chiến lược CMVN
Đường lối chiến lược CMVN
.
Ý nghĩa của Cương lĩnh: 
HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG THÁNG 11/1939
Địa điểm: Bà Điểm-Hóc Môn-Gia Định
Người chủ trì: TBT Nguyễn Văn Cừ
Nội dung
Mục tiêu đấu tranh
Khẩu hiệu đấu tranh
Nhiệm vụ
Phương pháp đấu tranh
Hình thức mặt trận
.
.
.
Ý nghĩa của Hội nghị: 
Địa điểm: Pác Bó – Cao Bằng
Chủ trì: Nguyễn Ái Quốc
HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS ĐÔNG DƯƠNG LẦN VIII (5/1941)
Nội dung
Nhiệm vụ
Hình thái của cuộc khởi nghĩa
Hình thức mặt trận
Khẩu hiệu đấu tranh
.
Ý nghĩa của Hội nghị:
Khó khăn
Thuận lợi
 NƯỚC VIỆT NAM DCCH
Chính trị
Kinh tế
Văn hóa
Tài chính
Quân sự
.
 Nhà nước VNDCCH non trẻ bị đặt trong tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc”.
NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA ĐẢNG 
VÀ CHÍNH PHỦ
Đối nội
Đối ngoại
Giệt giặc đói
Củng cố CQ
Giệt giặc dốt
Tài chính
Đối với quân Pháp
Đối với quân THDQ và tay sai
.
Sau 6/3
Trước 6/3
Chính trị
Kinh tế
Việt Nam đứng trước 2 sự lựa chọn
(GV phân tích tình huống)
Hiệp ước Hoa – Pháp
(28/2/1946) 
Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến việc ký Hiệp định sơ bộ
Hòa
Đánh
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6.3.1946
Nội dung
(2)
(1)
.
(3)
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Mục đích của đề tài là phát huy tinh thần tự chủ của học sinh khi học lịch sử. Đề tài nhằm khắc phục tình trạng “ thầy giảng, trò nghe”, “thầy đọc, trò chép”. Kiến thức đã có trong sách giáo khoa. Điều quan trọng đề tài khai thác một khía cạnh mới, một con đường để đưa các em tiếp cận một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng chán học, ngại học lịch sử như hiện nay. 
 Từ cách làm trên tôi thấy rằng mình đã thành công bước đầu, phần nào đã khắc phục được sự uể oải, nhàm chán trong giờ học Lịch sử đối với học sinh và ngay cả bản thân giáo viên.
1. Đối với bản thân:
 Khi vận dụng sơ đồ trong một số giờ dạy, bản thân cảm thấy giờ dạy trôi đi rất thoải mái, rất nhẹ nhàng và thực hiện giờ dạy bảo đảm sư tương tác.
2. Đối với học sinh
Về mặt giáo dưỡng
Phát huy được tính tự chủ trong cách tiệp nhận và khai thác bài học. Tạo sự lôi cuốn trong học sinh, các em rất hào hứng, tập trung , tinh thần xây dựng bài cao. 
Học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bài học, ghi nhớ sự kiện một cách nhanh chóng và lo gic. Qua kiến thức được trình bày, giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy, so sánh, tổng hợp, đánh giá. 
Về mặt giáo dục
Học sinh đã tránh được thói ỷ lại và phần nào đã khẳng định được cái tôi trong quá trình học tập.
 C. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của đề tài
Theo kinh nghiệm của bản thân và đánh giá của các động nghiệp, nhất là những giáo viên tham gia dạy khối C thì đây là một đề tài có ý nghĩa thiết thực. Nó giúp giáo viên chủ động trong giờ dạy và giúp học sinh chủ động trọng giờ học. 
Đề tài này có ý nghĩa góp phần tìm cách đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Để phát triển tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh. 
Thông qua các sơ đồ kết hợp các câu hỏi tình huống có vấn đề, bản thân đã phát hiện được nhiều học sinh có năng lực tư duy thực sự về môn Lịch sử.
 Truyền thụ kiến thức một chiều sẽ làm cho bài học thụ động và khô khan. Đề tài này đã góp phần khắc phục được hiện tượng trên. Nó thực sự đưa lại làm cho học sinh trí tò mò và ý thức tự chủ khám phá kiến thức trong sách giáo khoa. Trong quá trình vận dụng đề tài vào giảng dạy, bản thân đã thu được những kết quả khả quan và được đông đảo học sinh tín nhiệm.
 2. Khả năng ứng dụng của đề tài :
Việc áp dụng đề tài vào thực tiễn rất dễ dàng. Khả năng ứng dụng , phổ biến, nhân rộng đề tài giữa các giáo viên giảng dạy lịch sử rất nhanh chóng.
Đề tài có thể áp dụng vào tất cả các bài học lịch sử ở trường phổ thông, kể cả các bài khai thác lược đồ. ngoài ra có thể thực hiện ở các tiết ôn tập, dạy và học thêm. Đề tài không chỉ vận dụng trong chương trình lớp 12 mà còn cả lịch sử lớp 11, lớp 10.
3. Bài học kinh nghiệm
Sau khi áp dụng đề tài vào thực tiễn tôi nhận thấy yếu tố đưa lại thành công là giáo viên phải thực sự tâm huyết với bộ môn. Sự nhiệt huyết của giáo viên sẽ làm chuyển biến nhận thực của học sinh về bộ môn lịch sử. Nhất là trong thực trạng hiện nay đối với môn lịch sử ở các trường THPT. 
Giáo viên phải biết sử dụng và khai thác công nghệ thông tin phục vụ cho bài giảng. Bởi vì đề tài cũng có thể vận dụng khi dạy các chiến dịch quân sự có lược đồ.
          Việc sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học Lịch sử sẽ góp phần làm cho học sinh tích cực hơn trong giờ học, chủ động chiếm lĩnh kiến thức trong học tập. Vì vậy, học sinh nắm được kiến thức một cách nhanh nhất và nhớ kiến thức lâu hơn.
          Tuy nhiên việc sử dụng sơ đồ hóa kiến thức cần tránh lạm dụng, cần xác định một các linh hoạt và hiệu quả trong dạy một mục, một bài hay một đối tượng học sinh cụ thể. Sử dụng sơ đồ kiến thức cần kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy học khác để nâng cao hiệu quả bài học Lịch sử.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm dạy học lịch sử tại trường THPT. Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, tôi mong đợi được Hội đồng khoa học , các đồng nghiệp đánh giá và góp ý để đề tài này có tác dụng thiết thực, góp phần lấy lại vị thế của môn Lịch sử trong bối cảnh hiện nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NHÀ TRƯỜNG
             Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến

 LÊ THỊ HỒNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Lịch sử-NXB giáo dục
2.Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông. NXB Giáo dục 7/2007.
3.Lịch sử Việt Nam đại cương, tập III, NXB Giáo dục năm 1998.
4.Sách giáo khoa lịch sử lớp 12- NXB giáo dục
5.Sách giáo viên-Lịch sử lớp 12- NXB giáo dục
6.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Lịch sử (lớp 10,11,12)- NXB giáo dục 2007.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_su_dung_so_do_trong_day_hoc_lich_su_lo.doc