Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử lớp 12 (Phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1954)
1.Lí do chọn đề tài
Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu ,tái hiện lại một cách chân thực quá khứ của xã hội loài người.Trong phạm vi nhà trường ,lịch sử là môn học có tác dụng tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức truyền thống yêu nước của dân tộc cho học sinh ,hơn thế nữa là sự biết ơn sâu sắc ,kính trọng không chỉ đối với ông cha ,các vị anh hùng dân tộc mà còn là sự biết ơn ,kính trọng đối với những người có cống hiến lớn cho nhân loại .
Mặc dù có tầm ảnh hưởng quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ .Song thực tế đáng buồn hiện nay là đa số học sinh không thích học môn lịch sử ,xem nhẹ môn lịch sử ,các em tiếp thu kiến thức lịch sử một cách hời hợt ,thiếu chính xác ,thiếu hệ thống ,có một số em có tinh thần học tập với môn học này thì gặp phải khó khăn như :Học trước quên sau ,hoặc học xong rồi không nhớ gì cả ,hoặc nhớ rồi nhưng lại quên do chưa hiểu được bản chất của vấn đề .....Điều này dẫn đến kết quả học tập môn lịch sử cũng như kết quả thi của các em trong những năm gần đây qua các kì thi điểm rất thấp .
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử lớp 12 (Phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1954)
sinh rơi vào tình trạng “học vẹt”, đọc thuộc lòng mà không hiểu bài. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng bản đồ tư duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Các bản đồ thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm. Ví dụ: Trước khi dạy Tiết 17 Mục II- Bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt từ năm 1919-1925 (Lịch sử 12) giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng trình bày những chuyển biến về xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất và điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD ở tiết 16 (Mục I: Những chuyển biến mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhât) Như vậy qua việc hoàn thiện SĐTD, học sinh không những nhận thức sâu sắc hơn về xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất bị phân hóa sâu sắc mà còn nói rõ hơn về thái độ chính trị và khả năng cách mạng của từng gia cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất, hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ chìa khóa trung tâm.Từ đó thấy được những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này. Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên cần căn cứ vào đó để đánh giá, nhận xét. - Sử dụng SĐTD trong việc giảng bài mới: Sử dụng sơ đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày. Giáo viên thay vì gạch chân đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng SĐTD để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan. Ví dụ: Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm (1939 -1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (Lịch sử 12), để xác định lệnh Tổng khởi nghĩa, việc giành chính quyền ở Hà Nội, trong cả nước và ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám là phần kiến thức không khó nhưng không dễ nhớ đối với học sinh. Nếu giáo viên sử dụng phương pháp trình bày truyền thống thì vấn đề vẫn được giải quyết nhưng không hiệu quả vì nội dung dàn trải, hết nội dung này đến nội dung khác, học sinh sẽ không thấy được mối quan hệ về việc chớp thời cơ để Tổng khởi nghĩa và việc dành chính quyền ở Hà Nội có ý nghĩa như thế nào đối với việc giành chính quyền trong cả nước và đặc biệt là ý nghĩa to lớn, nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám.Vì vậy đối với chủ đề này giáo viên có thể sử dụng SĐTD sau để yêu cầu học sinh hoàn thành kiến thức cơ bản trong chủ đề. Giáo viên sau khi đưa SĐTD cho học sinh và yêu cầu các nhóm học sinh dựa vào nội dung trong sách giáo khoa, bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường để hoàn thiện sơ đồ tư duy trên theo yêu cầu . Cuối cùng giáo viên cùng học sinh hoàn thiện được một bản đồ tư duy kiến thức theo ý muốn của mình, kết quả có thể như sau. - Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học : Củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là cho học sinh tự thiết kế cho mình một bản đồ theo ý muốn sáng tạo của mình với màu sắc tùy ý, có thể bản đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặc đầy đủ lượng kiến thức của bài học như vừa tiếp thu trong bài học, hoạt động cá nhân hoặc nhóm. Tuy nhiên, các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học. Ví dụ: Khi dạy Bài 18 : Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950) (lịch sử 12), sau khi dạy xong mục IV: Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, giáo viên có thế nhấn mạnh kiến thức lại nội dung kiến thức bài học này một cách đầy đủ và trực quan bằng SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn, qua đó học sinh sẽ hứng thú, nhớ lâu, nắm chắc bài học hơn. Qua việc củng cố nội dung bài học theo hình thức này học sinh sẽ nhớ lâu, nhớ kỹ nội dung bài học và phát huy được tính sáng tạo, tư duy của mình, giúp các em yêu thích môn Lịch sử hơn. -Sử dụng SĐTD để ra bài tập về nhà: Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh hoặc nhóm học sinh trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian). Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh. Ví dụ: Để dạy tốt bài 13 (Lịch sử 12): Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1930, mục II, ý 2: Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu nội dung của bài học theo các câu hỏi cuối mỗi mục trong bài như Nội dung của hội nghị thành lập Đảng,nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,Ý nghĩa của việc thành lập Đảng , mặt khác yêu cầu học sinh sưu tâm một số tranh ảnh có liên quan đến bài học như :Nguyễn Ái Quốc ,Hồ Tùng Mậu.Đồng thời qua những tài liệu trên có thể vẽ sơ đồ tư duy cho bài học với chủ đề :Đảng cộng sản Việt Nam ra đời .Yêu cầu sơ đồ tư duy phải thể hiện được tính sáng tạo, thẩm mỹ cao . Qua phương pháp này sẽ giúp các em hứng thú hơn trong việc chủ động tìm hiểu kiến thức,đặc biệt sẽ gây sự hứng thú hơn cho các em khi giáo viên yêu cầu sẽ chấm điểm với các SĐTD các em đã chuẩn bị ở nhà Sau đó khi dạy bài mới giáo viên cho học sinh đối chiếu so sánh nội dung đã chuẩn bị ở nhà xem đúng không, đầy đủ chưa, đồng thời giáo viên phải chuẩn bị một SĐTD có đầy đủ nội dung kiến thức của bài học này để giới thiệu và nhấn mạnh kiến thức cho học sinh nắm chắc, nhớ sâu bài học. - Sử dụng SĐTD hỗ trợ cho tiết tổng kết, ôn tập kiến thức: Sau mỗi chương, mỗi phần, giáo viên cần phải tổng kết, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh trước khi các em làm bài tập và làm bài kiểm tra chương, kiểm tra học kì, thi cuối năm. Với thế mạnh của SĐTD là kiến thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ đồ, các đường nối là sự diễn tả mạch logic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhân quả hay quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, màu sắc của các đơn vị kiến thức, sẽ giúp học sinh nhìn thấy “Bức tranh tổng thể” cả một phần kiến thức đã học. Có nhiều cách xây dựng SĐTD trong tiết ôn tập, củng cố: - Thông thường giáo viên cho một số câu hỏi và bài tập để học sinh chuẩn bị ở nhà. Trong tiết ôn tập, củng cố, giáo viên hướng dẫn học sinh tự lập SĐTD, sau đó cho học sinh trao đổi kết quả với nhau và sau cùng đối chiếu với SĐTD do giáo viên lập ra. Từng em có thể bổ sung hay sửa lại SĐTD của mình và coi đó là tài liệu ôn tập của mình. - Cách khác: Giáo viên lập SĐTD mở. Trong giờ ôn tập, củng cố, giáo viên chỉ vẽ một số nhánh chính, thậm chí không đủ nhánh, hoặc thiếu, hoặc thừa thông tin trong tiết học đó, giáo viên yêu cầu học sinh tự bổ sung, thêm hoặc bớt thông tin, để cuối cùng toàn lớp lập được một SĐTD ôn tập, củng cố kiến thức chương đó tương đối hoàn chỉnh và hợp lý. Cách làm này sẽ lôi cuốn được sự tham gia của học sinh (suy nghĩ nhiều hơn, trao đổi nhiều hơn, tranh luận nhiều hơn) và giờ ôn tập, tổng kết chương sẽ không tẻ nhạt và có chất lượng hơn. - Bên cạnh đó còn có cách khác như chia nhóm và từng nhóm lập SĐTD. Sau đó các nhóm lên trình bày SĐTD của nhóm, các nhóm khác nhận xét về các mặt như sau: + Nội dung cơ bản kiến thức trong chương đã đủ chưa? Còn sót kiến thức nào không? + Cách trình bày đã hợp lý chưa? Vị trí các thông tin như thế nào? + Cấu trúc của SĐTD đã hợp lý chưa? Đã làm nổi bật nội dung cơ bản chưa? + Nhìn tổng thể có hợp lý không, có hấp dẫn được người học không? Với cách lập SĐTD như trên, chắc chắn giờ ôn tập, củng cố kiến thức sẽ mang lại hiệu quả cao. b/Kết quả thực hiện : Qua gần 10 năm giảng dạy ở trường THPT Cẩm Thuỷ 3 ,việc tìm hiểu nghiên cứu ra những phương pháp học tập mới, phù hợp với đối tượng học sinh vùng cao,giúp học sinh dễ học ,dễ nhớ là cả một vấn đề trăn trở đối với bản thân tôi .Trong những năm gần đây ,đặc biệt qua thực nghiệm của năm học 2017-2018 ở lớp 12a4 tôi thấy việc áp dụng phương pháp này có khả thi ,đa số học sinh học tập hứng thú hơn ,tiếp thu kiến thức chủ động và dễ dàng hơn ,đặc biệt học sinh có thể nắm được bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và lâu những nội dung của bài học. Mặt khác, dạy học bằng SĐTD giúp học sinh không nhàm chán về bài học mà luôn sôi nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học. Phương pháp này giáo viên không chỉ thuyết trình một mình mà học sinh cùng giáo viên giải quyết vấn đề. Học sinh có thể tự học ở nhà rất hiệu quả, không tốn kém. Tiết học đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với cách dạy truyền thống là đọc chép hoặc một tiết dạy chỉ sử dụng bằng công nghệ thông tin cho học sinh nhìn chép. Đặc biệt với phương pháp này sẽ tác động đến học sinh bằng nhiều hướng;Vừa nghe,vừa nhìn ,vừa suy nghĩ,vừa hoạt động tư duy ,vừa hoạt động ngôn ngữ .Sự hấp dẫn đối với học sinh trong giờ học bằng phương pháp này được nảy sinh từ yêu cầu mới tìm tòi,hiểu biết.Qua một số hình ảnh trực quan ,qua sơ đồ tư duy ,màu sắc...đã tác động rất lớn đến suy nghĩ của các em .Qua đó giáo dục cho các em về truyền thống ,tinh thần yêu nước ,lòng tự hào dân tộc ,sức mạnh đoàn kết toàn dân .Từ việc thích thú trong học tập,yêu thích bộ môn sẽ giúp nâng cao được hiệu quả học tập ,chất lượng của bộ môn..Điều nay được thể hiện rõ qua kết quả so sánh sau : Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 12a4 43 06 13,9 24 55,8 13 30,3 0 0 0 0 12a5 45 01 2,2 17 37,8 25 55,6 02 4,4 0 0 Như vậy qua bảng đối chiếu ,so sánh trên ta thấy ở lớp 12a4 dạy thực nghiệm phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy ,số học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn,chủ động hơn ,đặc biệt tỷ lệ % từ TB trở lên đạt 100% ,không có học sinh yếu kém.Ngược lại ở lớp 12a5 tôi không áp dụng phương pháp này ,kết quả cho thấy ,số học sinh khá ,giỏi ít và chủ yếu là học sinh TB ,vẫn có học sinh yếu .Đặc biệt qua kết quả đạt được đó cho thấy rằng các em đã yêu thích bộ môn lịch sử, nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của lịch sử góp phần nâng cao chất lượng bộ môn trong nhà trường. Từ kết quả thực nghiệm trên ,tôi có thể mạnh dạn khẳng định rằng sử dụng phương pháp sơ đồ ,hoàn toàn có thể áp dụng trong thực tiễn việc dạy và học bộ môn lịch sử ,đồng thời mang lại hiệu quả học tập cao. PHẦN III :KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Như vậy trước thực trạng chung của vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay,việc đổi mới phương pháp trong dạy học lịch sử là vấn đề thiết yếu đầu tiên đối với mỗi giáo viên .Các giáo viên cần phải có trách nhiệm trong việc tìm tòi ,nghiên cứu ra những phương pháp ,giải pháp học tập thiết thực ,khoa học và phù hợp với từng đối tượng học sinh ,để thu hút sự học tập và gây hứng thú cho các em trong việc tiếp thu kiến thức môn lịch sử .Đặc biệt trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề truyền tải kiến thức lịch sử cho học sinh càng phải được quan tâm chú trọng hơn ,qua đó góp một phần nhỏ nhằm giáo dục thế hệ trẻ nhân cách và đạo lý sống của con người . Gánh vác một phần trách nhiệm chung đó ,bản thân tôi rất trăn trở,nghiên cứu để tìm tòi ra những phương pháp học tập phù hợp cho đối tượng học sinh của mình .Qua thực tế kiểm nghiệm trong những năm gần đây và đặc biệt qua năm học 2017-2018 với kết quả trên tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến :Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sửViệt Nam giai đoạn (1919-1954) ,nhằm phần nào khắc phục được tình trạng chung của bộ môn lịch sử . Từ kết quả thu được trong quá trình sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy và học lịch sử lớp 12 nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, bản thân tôi đã đúc rút một số kinh nghiệm như sau: -Đối với giáo viên: - Bản thân mỗi giáo viên không ngừng nâng cao tay nghề về chuyên môn nghiệp vụ . - Phải thường xuyên tổ chức dạy học theo phương pháp sử dụng SĐTD để phát triển hết khả năng sáng tạo, thẩm mỹ, khả năng tư duy của học sinh. - Giáo viên phải có sự đầu tư ,kiên trì ,tỷ mỉ để thiết kế được những kiểu sơ đồ tư duy khác nhau phù hợp với dung lượng kiến thức trong từng mục,từng bài hoặc từng chương,phù hợp với đối tượng học sinh -Cần phải hướng dẫn kỹ cho học sinh chuẩn bị nội dung bài học ở nhà thông qua SĐTD, sau đó kiểm tra sự chuẩn bị của các em và quan tâm các nhóm, các học sinh yếu kém, tuyên dương, động viên những nhóm làm tốt nhiệm vụ mà giáo viên giao để khuyến khích các em phát huy tạo niềm say mê cho các em yêu thích môn học. -Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào, bài học nào cũng có thể sử dụng SĐTD và cũng không phải sử dụng cho mọi giờ học. Giáo viên cần có sự linh hoạt trong sử dụng SĐTD đúng lúc, đúng cách, phù hợp với đối tượng học sinh và quan trọng là đảm bảo việc truyền tải nội dung bài học - Đối với học sinh - Luôn có niềm đam mê, sự hứng thú học tập bộ môn lịch sử - Thường xuyên chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu của giáo viên - Lúc nào cũng có sẵn giấy A4, bút chì, bút màu, tẩy, bảng phụ trong cặp - Phải rèn luyện sự sáng tạo, óc tư duy của mình trong cách học SĐTD Có như vậy mới tạo ra được khí thế học tập cho các em ,đưa các em vào thế chủ động tìm hiểu ,tiếp thu kiến thức,phân tích kiến thức và tránh được tình trạng thầy đọc trò chép . Mong rằng với phương pháp học tập này sẽ góp một phần nhỏ vào kho tàng sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy -học môn lịch sử của tỉnh nhà .Do điều kiện thời gian ,phạm vi đề tài và năng lực có hạn nên rất mong được sự đóng góp của các thầy cô để sáng kiến này được hoàn thiện hơn ,phục vụ hữu ích hơn trong việc dạy và học môn lịch sử . XÁC NHẬN CỦA HĐKH NHÀ TRƯỜNG Cẩm Thuỷ ,ngày 20/05/2018 Người viết Ngô Thị Hà III. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu hướng dẫn dạy học theo phương pháp lập bản đồ tư duy của TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thị Thu Thủy của Bộ GD & ĐT. 2. Hoạt động dạy học bằng phương pháp “Lập bản đồ tư duy” (Tài liệu dạy học Bộ GD&ĐT) 3. Sách giáo khoa, Tài liệu chuẩn KT-KN lịch sử lớp 12 4. Một số hình ảnh, bản đồ khai thác từ mạng Internet 5. Một số vấn đề đổi mới PPDH ở trường THPT lớp 12 của bộ GD-ĐT 6.30 ngày chinh phục kì thi THPT môn lịch sử bằng sơ đồ tư duy-NXBĐH Quốc Gia MỤC LỤC Mục Nội dung Trang I Phần mở đầu 1 1 Lý do chọn đề tài 1-2 2 Phạm vi nghiên cứu 2 II Giải quyết vấn đề 3 1 Cơ sở lý luận 3-4 2 Thực trạng vấn đề 4 3 Kết quả thực trạng 5 4 Các giải pháp và tổ chức thực hiện 5-16 III Kết luận và đề xuất 17-18 Tài liệu tham khảo 19 Mục lục 20 Phụ lục - Một số hình ảnh hoạt động dạy và học bằng SĐTD 21 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC QUA PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY Hình ảnh kiểm tra bài cũ học sinh qua sơ đồ tư duy Hình ảnh hoạt động nhóm của học sinh thực hành vẽ sơ đồ tư duy Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy Giáo viên cùng học sinh hoàn thiện sơ đồ tư duy Sản phẩm sơ đồ tư duy học sinh hoàn thành
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_so_do_tu_duy_trong_day_hoc_lic.doc

