Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng tư liệu lịch sử trong giảng dạy văn học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường trường THPT Cẩm Thủy 2
Trước hết chính là tình trạng học sinh quay lưng với môn học, các tiết văn học trước kia vốn là niềm hào hứng nay học sinh hờ hững thậm chí ngán ngẩm. Dù là môn thi bắt buộc với tất cả các thí sinh trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia, nhưng tình trạng học văn ở các khối lớp nói chung, đặc biệt là khối lớp 12 vẫn thiếu sự hào hứng, tự giác.
Bên cạnh đó là tình trạng học sinh nắm kiến thức văn học một cách hời hợt, phân tích tác phẩm văn học chỉ như một sự cắt nghĩa câu từ một cách đơn thuần mà không hiểu ý nghĩa xã hội, các vấn đề mang tính thời đại được đặt ra trong tác phẩm… Một trong những lí do của tình trạng trên là sự thiếu hụt kiến thức lịch sử liên quan đến tác phẩm văn học, giai đoạn văn học... của học sinh; tình trạng thiếu tư duy hệ thống mang tính liên môn để lí giải sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đến văn học.
Một vấn đề nữa vô cùng quan trọng khiên tôi quan tâm tới đề tài này là hiện nay mục tiêu giáo dục đang hướng tới việc tích cực rèn luyện kĩ năng và năng lực vận dụng kiến thức liên môn để việc giải quyết các vấn đề trong học tập cho học sinh. Nhưng học sinh ở trường THPT Cẩm Thủy 2 trong tất cả các khối lớp đều khá hời hợt với việc này, khả năng liên kết kiến thức trong các môn học yếu… lâu dài sẽ khiến học sinh không theo kịp xu hướng học tập chung.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng tư liệu lịch sử trong giảng dạy văn học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường trường THPT Cẩm Thủy 2
Nhặt”: Hành động ngẫu nhiên mà có được một cách dễ dàng. Cái nhặt được thường kém giá trị. à “Vợ nhăt”: Không phải động từ mà là danh từ chỉ về một kiểu vợ: Người vợ bỗng dưng có được dễ dàng mà không phải cưới xin, lễ nghĩa. - Ý nghĩa: Nhan đề gợi ra thân phận và tình cảnh tội nghiệp, nhỏ bé của con người trong nạn đói, gợi sự hứng thú cho người đọc, đồng thời gợi ra được tư tưởng chủ đạo mà tác giả muốn bộc lộ trong toàn bộ tác phẩm: tư tưởng nhân đạo. 2. Tình huống truyện độc đáo - Tình huống độc đáo: Tràng bỗng dưng nhặt được vợ. - Tình huống độc đáo ở chỗ: + Tràng vốn là một thanh niên thô kệch, xấu xí (Dẫn chứng) nhà nghèo lại là dân ngụ cư à Điều kiện hoàn cảnh riêng của Tràng khó có cô gái nào chịu cưới hỏi chứ chưa nói đến theo không. + Việc Tràng “Nhặt” vợ lại diễn ra trong hoàn cảnh chung vô cùng hiểm nghèo: Nạn đói hoành hành dữ dội khắp nơi: Người sống thì “Xanh xám như những bóng ma”, người chết thì: “Như ngả rạ” khiến cho không khí cũng đặc quánh “mùi gây của xác người. Trong hoàn cảnh ấy lấy vợ là một việc liều lĩnh mà ít ai dám lựa chon. à Bởi vậy việc Tràng lấy vợ nhặt khiến dân xóm ngụ cư người ngạc nhiên, kẻ thích thú, người lo lắng, ái ngại cho Tràng. - Ý nghĩa của tình huống: + Làm nổi bật hiện thực đen tối của người lao động trong nạn đói + Tình huống truyện giúp làm nổi bật đặc điểm tính cách của nhân vật: Niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc lứa đôi của con người trong hoàn cảnh nguy kịch khi con người phải đối diện với cái chết ngay bên cạnh. Đó cũng là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của Kim Lân “Những người đói họ không nghĩ đến cái chết, họ nghĩ về cái sống” 3.Đặc điểm các nhân vật qua tình huống truyện a. Nhân vật Tràng. - Bối cảnh nhặt được vợ: Qua một câu hò vu vơ khi đang đẩy xe bò, hai lần gặp gỡ chớp nhoáng chưa kịp để nhớ mặt với bốn bát bánh đúc bị bắt mời, vài lời đối thoại, một lời rủ rê tựa như đùa: “ Này nói đùa chứ cùng về”. - Tâm trạng ban đầu: “Chợn nghĩ”: Cũng lo sợ, đắn đo bởi hoàn cảnh. Sau đó tặc lười “Chậc, kệ”à Cho thấy sự khát khao hạnh phúc lứa đôi bất chấp hoàn cảnh của Tràng. - Trước khi ra về: Tràng đưa thị vào chợ mua cho thị cái thúng đựng vài thứ lặt vặt, vào hàng cơm đánh một bữa thật no, không quên mua thêm hai hào dầu (Thứ xa xỉ phẩn lúc bấy giờ)vì “Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa” à Những hành động, việc làm cho thấy sự hào phóng, chu đáo và tinh tế của Tràng ẩn đằng sau sự xấu xí, thô kệch của ngoại hình và ngôn ngữ. - Trên đường về: Gương mặt “Phớn phởlấp lánh”, không đùa cợt lại với bọn trẻ như mọi khi mà biết nghiêm nét mặt không bằng lòng vì sợ bị chúng trêu đùa, thích chí và tự đắc bên cạnh sự ngượng ngùng của thị, thỉnh thoảng trò chuyện và “Trong phút chốc Tràng như quên hết mọi tăm tối ê chề, chỉ còn tình ngĩa với người phụ nữ đi bên cạnh” à Hành động, tâm trạng đó cho thấy sự chững trạc, nghiêm túc, niềm hạnh phúc vui sướng của Tràng bởi có người vợ nhặt bên cạnh, thể hiện niệm trân trọng mà Tràng dành cho người vợ nhặt, trân trọng niềm hạnh phúc nhỏ bé mà Tràng tình cờ có được. b. Nhân vật người vợ nhặt: - Ngoại hình: “Gương mặt lưỡi cày xám xịt”, “quần áo tả tơi như tổ đỉa”, nom thị “Gầy sọp hẳn đi”à Cái đói hiển hiện nơi thể xác con người. - Tính cách: Ăn nói cong cớn, chao chát chỏn lỏn, hành động vô duyên thiếu thể diện: Gợi ý được ăn thẳng thừng “Ăn gì thì ăn chả ăn giầu”, được mời ăn hai mắt sáng lên, ăn liền một chập bốn bát banh đúc, Liều lĩnh bất chấp theo không một người đàn ông xa lạ mới gặp chóng vánh hai lần. à cái đói như giày vò tâm hồn làm tha hóa nhân cách con người, không còn biết đến tự trọng, thể diện. Đó cũng là niềm khát khao được sống một cách mãnh liệt của con người khi đứng trước cái chết. - Trên đường về: Rón rén, e thẹn, trước đôi mắt của mọi người nơi xóm ngụ cư nhìn mình khiến thị càng ngượng nghịu “Chân nọ bước díu cả vào chân kia”à Thị không phải là con người trơ trẽn, không biết tự trọng như những gì ta thấy. - Khi về đến nhà: Nén tiếng thở dài trước căn nhà rúm ró, chỉ dám ngồi mớm nơi mép giường khi chờ đợi mẹ Tràng về. Cất tiếng chào U và khép nép đứng một chỗ nghe bà cụ dặn dò, khuyên răn. à Rõ ràng thị cũng là một cô gái có ý tứ, biết ý thức rõ ràng về thân phận của mình- Thân phận của một nàng dâu “Nhặt”. à Nhân vật người vợ nhặt có tác dụng phản ảnh sâu sắc tình cảnh đói khát: cái đói dày vò cả thể xác và tinh thần con người, làm biến chất về nhân cách Qua đó có tác dụng lên án sâu sắc tội ác của kẻ thù. Nhưng hơn hết vượt lên hoàn cảnh con người vẫn tiềm tàng những phẩm chất tốt đẹp không gì hủy hoại được. c. Nhân vật bà cụ Tứ - Nhân vật chủ yếu được khắc họa ở diễn biến tâm trạng đầy phức tạp. - Ban đầu khi chưa hiểu rõ sự tình lòng bà đầy băn khoăn, ngạc nhiên với bao phỏng đoán. - Sau khi hiểu rõ sự tình: bà vừa ai oán xót thương cho số kiếp con mình, vừa lo lắng cho tương lai các con, cảm thông, thương cho cô gái gặp tao đoạn khó khăn này mới lấy con mìnhLòng bà mừng vui, lo lắng lẫn lộn. à Diễn biến tâm trạng cho thấy tấm lòng vị tha, nhân hậu bao la của người mẹ giữa cái đói, cái chết đe dọa. 4.Gia đình Tràng vào buổi sáng hôm sau sau khi có vợ. a. Cái đói vẫn bủa vây hạnh phúc của Tràng, gia đình Tràng sau khi Tràng có vợ: - Đêm tân hôn của Tràng bao trùm bởi không khí tang thương bởi mùi khét lẹt của mùi đốt đống rấm và tiếng hờ khóc tỉ tê ở những gia đình có người chết. - Bữa cơm đầu tiên đón cô dâu mới được don trên cái mẹt rách chỉ có niêu cháo loãng ăn với rau chuối thái rối và đĩa muối, mỗi người được hai lưng cháo thì hết. Món chè khoán mà thực chất là cháo cám của bà cụ Tứ- Thứ thức ăn chăn nuôi mà như lời bà thì “Khối nhà còn chả có mà ăn” khơi dậy bao tủi hờn trong tâm trí mọi người. - Ngoài đình, tiếng trống thúc thuế của Nhật vẫn vang lên dồn dập, vội vã. b. Những đổi thay của gia đình Tràng * Quang cảnh: Nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, thu dọn, quần áo được đem ra sân hong, hai ang nước vốn khô cong nay đầy ắp, đống rác mùn đã được hót sạch nơi lối đi, vợ tràng quét sân, mẹ giẫy cỏ * Tràng: Thức dậy với cảm giác “Êm áiđi ra”, vẫn không tin vào sự thật là mình đã có vợ, cảm nhận sự thay đổi rõ rệt từ con người đến quang cảnh nhà mình, thấm thía cảm động trước hình ảnh sinh hoạt giản dị của gia đình, Cảm thấy thương yêu, gắn bó với gia đình, thấy nên người thật sự, nhận thức được bổn phận phải lo lắng cho vợ con, muốn làm một việc gì đó để cùng tu sửa căn nhà * Vợ Tràng: Không còn vẻ chao chát, chỏn lỏn mà trở thành người phụ nữ hiền hậu đúng mực, đảm đang chăm chỉ, biết lo toan, vun vén cho gia đình. * Bà cụ Tứ: Nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác hẳn mọi khixăm xắn quét tước dọn dẹp cùng con dâu, toàn nói những chuyện sung sướng về mai sau. * Nguyên nhân: - Sự đổi thay của hai mẹ con Tràng là do sự xuất hiện của ngườ vợ nhặt mang lại: Người vợ đem đến niềm hi vọng mới cho Tràng vào tương lai. Đặc biệt chị cũng là người nhắc đến những điều mới mẻ: Câu chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người dân không chịu đóng thuế, họ còn phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Câu chuyện gợi ra trong tâm trí Tràng những hình ảnh tốt đẹp của tương lai dù chưa rõ ràng với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới dẫn đường. - Sự đổi thay của thị bắt nguồn từ tình người ấm áp mà thị nhận được ở gia đình chồng. à Qua đó tác giả phát hiện ngợi ca tình người và tinh thần lạc quan, luôn tin tưởng vào tương lai của người lao động. 5. Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm - Nghệ thuật trần thuật - Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật - Nghệ thuật gợi không khí, dựng đối thoại. Hoạt động 3: Củng cố, luyện tập (5’) Mục tiêu: Củng cố kiến thức. Phương pháp: Nêu câu hỏi , làm việc cá nhân Hình thức: Trả lời câu hỏi trắc nghiệm Phương tiện: Giáo án, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo HĐ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CẦN ĐẠT ĐƯỢC 1. Củng cố kiến thức cơ bản Bước 1: Gv trình chiếu các câu hỏi trắc nghiệm lên màn hình yêu cầu học sinh trả lời: Nội dung tư tưởng chủ đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” là gì? Tái hiện lại thảm cảnh nạn đói năm 1945 mà dân tộc ta đã trải qua Làm nổi bật bi kịch của con người trong nạn đói. Tố cáo thực dân Pháp và phát xít Nhật Phát hiện và ngời ca vẻ đẹp tình người, niềm khát khao hạnh phúc và niềm lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống của con người. Đặc sắc nghệ thuật nổi bật nhất trong xây dựng nhân vật của tác phẩm là gì: Miêu tả ngoại hình. Miêu tả hành động Miêu tả tâm lí nhân vật Kết hợp miêu tả ngoại hình và hành động. Bước 2: HS theo dõi trả lời câu hỏi vấn đáp nhanh Bước 3: Gv đánh giá III. CỦNG CỐ- LUYỆN TẬP Câu 1: Đáp án D Câu 2: Đáp án C Hoạt động 4: Luyện tập vận dụng (10Phút) - Mục tiêu: Khắc sâu kiến thức và kĩ năng thực hành, vận dụng hiểu biết từ bài học để giải quyết tình huống học tập. - .Phương pháp: Nêu vấn đề - Hình thức: Thảo luận - Phương tiện: Giáo án, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo HĐ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CẦN ĐẠT ĐƯỢC 1. Bài tập 1: Bước 1: GV tổ chức cho HS làm việc cá nhân với câu hỏi suy luận: Hãy trình bày lại cảm nhận của em về bối cảnh lịch sử của câu truyện, chỉ ra vai trò của bối cảnh lịch sử ấy trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm? - Bước 2: HS suy nghĩ trả lời - Bước 3: GV nhận xét, đánh giá 2.Bài tập 2 GV giao bài tập về nhà: Lập dàn ý chi tiết cho đề bài sau: Nói về tác phẩm “Vợ nhặt” có ý kiến cho rằng: “Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà họ nghĩ về sự sống”. Hãy trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên. IV. LUYỆN TẬP VẬN DỤNG - Bối cảnh lịch sử: Nạn đói năm 1945 với cảnh đói khát, chết chóc thê lương của con người. - Bối cảnh ấy là cái nền để nhà văn phát hiện và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người: Trong khi đối mặt với cái đói khát, chết chóc cận kề con người vẫn luôn khao khát hạnh phúc gia đình, vẫn luôn đối xử với nhau bằng tình người thấm đẫm và không thôi lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Đó cũng là tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác giả. V. Hoạt động 5: Mở rộng, sáng tạo (10 phút) - Mục tiêu: Rèn luyện kĩ năng sáng tạo, năng lực tự học, và mở rộng kiến thức. - Phương pháp: Thảo luận theo từng cặp - Hình thức: Giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh về nhà tự thực hiện - Phương tiện: Giáo án, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo HĐ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CẦN ĐẠT ĐƯỢC Bước 1: Gv nêu vấn đề cho HS thảo luận. - Từ những phát hiện mới mẻ của Kim Lân về con người trong hoàn cảnh đầy hiểm nghèo, em hãy liên hệ với một vài tác phẩm đã học từ đó thấy được văn học là lĩnh vực luôn cần “Khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) - Bước 2: HS bàn luận và trả lời câu hỏi (Gv khuyến khích HS trả lời với nhiều phát hiện) - Bước 3: Gv nhận xét, đánh giá. V. MỞ RỘNG- SÁNG TẠO - Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn: Viết về đề tài chiến tranh nhưng không khai thác cái tàn khốc của chiến tranh trên chiến trường ở nơi người chinh phu, mà phát hiện nỗi đau của chiến tranh ở người chinh phụ chờ chồng nơi quê nhà. - Tác phẩm “Chí Phèo” (Nam Cao): viết về đề tài người nông dân trước cách mạng, nhưng không khai thác nỗi đau của sự bần cùng hóa mà phát hiện ra bi kịch tha hóa biến chất và nỗi đau bị cự tuyệt quyền làm người của con người PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Tổ/ nhóm:. Phân tích đặc điểm nhân vật Tràng trong tình huống truyện Diễn biến Biểu hiện của nhân vật (Tâm trạng, hành động) Ý nghĩa được gợi ra (Đặc điểm tính cách con người) Bối cảnh nhặt vợ Tâm trạng khi “Nhặt” vợ Trước khi dẫn vợ về nhà Trên đường về nhà Khi về đến nhà PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Tổ/ nhóm:. Phân tích đặc điểm nhân vật thị trong tình huống truyện Diễn biến, phương diện thể hiện Biểu hiện của nhân vật Ý nghĩa được gợi ra (Đặc điểm tính cách, con người) Ngoại hình Ngôn ngữ, hành động khi gặp Tràng ngoài chợ Trên đường về nhà Khi về nhà Tràng PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3 Tổ/ nhóm:. Phân tích đặc điểm nhân vật bà cụ Tứ trong tình huống truyện Diễn biến, phương diện thể hiện Biểu hiện của nhân vật Ý nghĩa được gợi ra (Đặc điểm tính cách, con người) Trước khi hiểu ra sự việc Sau khi hiểu ra sự việc PHỤ LỤC 2 NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG CỦA BÀI DẠY THỰC NGHIỆM 1. Hình 1 2. Hình 2 3. Hình 3 4. Hình 4 5. Hình 5 PHỤ LỤC 3 TƯ LIỆU LỊCH SỬ ĐƯỢC DÙNG ĐỂ GIẢNG DẠY PHẦN II BÀI GIẢNG THỰC NGHIỆM 1. Tư liệu hình ảnh 1.1. Người sống “Vật vờ xanh xám như những bóng ma” Những đứa trẻ đói (Tranh Võ An Ninh) Ảnh tư liệu: Những bức ảnh chưa được công bố về nạn đói 1945 của Võ An Ninh Tranh vẽ cô gái trong nạn đó của một họa sĩ vô danh 1.2.Người chết như ngả rạ” Những người chết khắp nơi được thu gom lại Cảnh đi thu gom xác chết trên hè phố Những hố chôn tập thể được lấp vội vàng 2. Tư liệu thành văn được học sinh sưu tầm về nạn đói - Giữa trưa hè nắng oi ả. Người làng bất thần nghe tiếng khóc ré bên nhà lão Thử. Bà con chạy tới thì lão đang đánh trần nằm giãy đành đạch giữa sân với cái bụng căng lè, bên cạnh là rổ khoai lang mới luộc chưa kịp chín hết", cụ Trang thở dài. (Lời Kể cụ Nguyễn Xuân Trang- Tiền Hải- Thái Bình) - Người bị choáng đâm đầu xuống sông, người nằm bên bờ ruộng khi miệng còn ngậm cỏ, người chết trong nhà không ai biết. Ban đầu, dân làng bó chiếu, chăn đem chôn. Về sau những tấm mành lưới, cánh buồm để ra khơi trở thành "quan tài" tạm, xác chết được kéo ra bãi tha ma phía bờ biển. Nghĩa địa Cồn Mả Quán chi chít nấm mồ lấp vội. (Lời kể cụ Nguyễn Xuân Tài- Quảng Xương Thanh Hóa) - Ở xã Tây Lương, huyện Tiền Hải (Thái Bình) có gia đình chết hết, đến khi thối rữa, bốc mùi, làng xóm mới phát hiện ra. Có gia đình 4 thế hệ: bố, con, cháu, chắt gồm 31 người, chết đói 26 người. Có chi họ 15 gia đình với 74 người, chết đói 61 người, trong đó có 7 gia đình gồm 30 người chết đói không còn người nào. Họ Tô ở xóm Bối Xuyên chỉ còn duy nhất 1 người sống sót là ông Tô Nuôi, do được làng xóm gom góp những thức ăn còn lại nuôi sống để giữ giống cho dòng họ này. (Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- Những chứng tích lịch sử- GS. Văn Tạo, GS. Furuta Motoo) PHỤ LỤC 3 TƯ LIỆU LỊCH SỬ DÙNG TRONG GIẢNG DẠY PHẦN II.4 CỦA BÀI GIẢNG THỰC NGHIỆM. 1. Tư liệu hình ảnh Những đứa trẻ đói ngồi mút vỏ ốc thối trên hè phố ở Nam Định- Ảnh Võ An Ninh. Người đói làm thịt chuột bắt được ở bất cứ chỗ nào ăn để cầm hơi 2. Tư liệu thành văn do học sinh sưu tầm - Vì đói, ở Tồn Thành (Giao Thủy, Nam Định), người ta cắt cỏ vực đốt lấy hạt, giã vỏ lấy nhân nấu cháo ăn. Được ít ngày, cỏ vực không còn một ngọn, dân đào khoai ngứa, thứ chỉ dành cho lợn. "Ăn xong ngứa như rách cả cổ, nhưng không ăn thì chết. Ngẫm lại, con người khi đó còn không được như con lợn, con gà bây giờ", ông Vũ Viết Bật (82 tuổi) nhớ lại. (Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- Những chứng tích lịch sử- GS. Văn Tạo, GS. Furuta Motoo) - Đỉnh điểm của nạn đói là tháng 3-1945, từ lúc phải ăn rau dại, củ chuối, vỏ cây, bán dần tài sản trong gia đình để mua lương thực cầm hơi đến lúc không còn gì để bán và không thể mua, rất nhiều người đã ngồi chờ chết. Dân chúng bỏ làng lũ lượt kéo nhau đi mà không biết đi đâu, kiếm được gì, xin được gì ăn nấy. Vì đông người xin quá nên cũng không có nhiều người có để cho và thế là cứ lả dần đi và chết.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_tu_lieu_lich_su_trong_giang_da.doc

