Sáng kiến kinh nghiệm Tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975

Đổi mới nội dung sách giáo khoa và phương pháp dạy học lịch sử hiện nay để nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng kết quả các kỳ thi tốt nghiệp THPT và Đại học, cao đẳng, đồng thời khơi dậy niềm say mê đối với môn sử ở học sinh đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Từ những giáo sư đầu ngành Lịch sử, nhà biên soạn sách giáo khoa và sách tham khảo cho đến khoa Sư phạm Lịch sử ở các trường Đại học, các thầy cô trực tiếp dạy học ở các cấp trường đều đang nỗ lực cố gắng tìm phương pháp để đưa môn Lịch sử trở lại với vị trí quan trọng trước đây trong học sinh và xã hội, nhưng tìm ra giải pháp nào là tối ưu và phù hợp với xu thế phát triển hiện tại của cách mạng khoa học công nghệ đang bùng nổ hiện nay là một thách thức lớn. Hơn nữa do đặc trưng riêng của bộ môn Lịch sử: học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động mà từ nắm sự kiện và qua tạo biểu tượng lịch sử, tạo biểu tượng lịch sử là giai đoạn nhận thức đầu tiên của quá trình học tập lịch sử. Tuy nhiên trên thực tế trong sách giáo khoa, sách giáo viên và cả sách tham khảo hiện nay vẫn chưa thực sự gắn liền sự kiện, hiện tượng lịch sử với biểu tượng lịch sử, hạn chế đó là do giới hạn số câu, số chữ trong một cuốn sách, trong khi đó để tạo biểu tượng lịch sử thì cần số câu, số chữ dài kết hợp với hình ảnh và lời nói sinh động, hấp dẫn. Từ đó dẫn đến lịch sử trở nên khó hiểu, khó nhớ, khô khan, không hấp dẫn đối với học sinh hiện nay. Tạo biểu tượng lịch sử để tạo nên hứng thú học tập, khơi dậy những xúc cảm đúng đắn, hình thành nên nhân cách cho học sinh, đồng thời phát huy năng lực độc lập nhận thức học sinh đặc biệt là trí tưởng tượng, khả năng quan sát, so sánh và đánh giá nhân vật, sự kiện , hiện tượng lịch sử.
doc 18 trang SKKN Lịch Sử 11/11/2025 160
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975

Sáng kiến kinh nghiệm Tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975
n Nam chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965), giáo viên có thể sử dụng một số câu ca dao sau để làm nổi bật tình thần chiến đấu oanh liệt của nhân dân miền Nam:
“Mĩ khoe có thiết vận xa,
Chạy ngang, chạy dọc, chạy ra, chạy vào.
Hầm ngang, hố dọc ta đào,
Chúi mũi lộn nhào, hết thiết vận xa.”
“Ba Tơ, An Lão, Đồng Xoài,
Cùng với Ấp Bắc tưng bừng chiến công.
Ai về Sơn Tịnh quê ta,
Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng.”
“Dân mình như hòn đá trên non,
Trời lay không chuyển, gió lòn không xê.
Nó xúc bên ni, nó đổ bên tê,
Phá rào, vượt lối, ta về làng ta”
(Phong trào phá “Ấp chiến lược”)
 Công tác binh vận trong cuộc chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”:
“Cùng nhau máu mủ, ruột rà,
Nỡ theo Mĩ – Diệm, đốt nhà hại dân.”
“Anh em binh sĩ có hay,
Hai chữ “US” in đầy quân trang.
Ngồi xe “US” đi càn,
Cầm súng “US” bắt làng, hại dân”.
Khi tạo biểu tượng cho HS về tinh thần gắn bó ruột thịt của nhân dân hai miền Nam-Bắc có thể sử dụng câu ca dao sau: Nghĩa tình Bắc – Nam:
“ Bắc Nam là con một nhà,
Là gà một mẹ, là hoa một cành.
Nguyện cùng biển thẳm non xanh
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền”
 Ví dụ 4: Tạo biểu tượng về niềm vui chiến thắng khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thì GV có thể sử dụng đoạn thơ sau: Bài 23– “Khôi phục và phát triển kinh tế xã hội miền Bắc giải phóng hoàn toàn miền Nam 1973-1975”Với chiến dịch Hồ Chí Minh, toàn thắng đã về ta, trong giờ phút thiêng liêng ấy lòng mỗi người dân đều rạo rực muốn dâng chiến công lên Bác:
Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa
(Toàn thắng về ta - Tố Hữu)
4. 6.Tạo biểu tượng lịch sử bằng sử dụng tài liệu lịch sử địa phương
 Tác dụng: Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương là để cụ thể hóa kiến thức chung về lịch sử dân tộc, lĩnh hội những khái niệm phức tạp, khái quát khoa học để tạo biểu tượng rõ ràng, có hình ảnh. Đồng thời còn có tác dụng gắn các em vào đời sống xã hội, gắn bó tình cảm với quê hương.
Ví dụ: Dạy về Vai trò hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến Miền Nam, hoặc dạy tiết Lịch sử địa phương GV sử dụng tư liệu lịch sử địa phương về Ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc - một biểu tượng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta; là nơi giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Vị trí địa lý của Ngã ba Đồng Lộc (thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) là nơi giao điểm của đường 15A với các tỉnh lộ, cách Thành phố Hà Tĩnh hơn 20 km về hướng Tây Bắc. Nơi đây là một vùng đồi hẹp trống trải, một bên là núi trọc, một bên là đồng ruộng. Mùa khô đường đầy bụi đỏ trong gió Lào, nắng lửa; mùa mưa nước ngập bùn lầy. Là vùng địa hình hiểm trở, nếu địch đánh phá thì các tuyến đường giao thông dễ bị chia cắt và rất khó khắc phục.Từ ngày 20 - 4 - 1968, Đường quốc lộ 1A bị cắt đứt, ta chuyển hướng vận tải sang tuyến Đường 15A đi qua Ngã ba Đồng Lộc. Lúc này trên đất Hà Tĩnh chỉ còn Đường 15A là con đường duy nhất đi vào Nam của các phương tiện cơ giới. Bởi thế, Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành một đầu mối giao thông quan trọng, một trọng điểm hiểm yếu, giữ vai trò quyết định đảm bảo thông suốt cho huyết mạch vận tải nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Vì vậy, đế quốc Mỹ đã bằng mọi thủ đoạn đánh phá Ngã ba Đồng Lộc. Biến nơi đây thành “toạ độ lửa” để hòng cắt đứt con đường tiếp viện của chúng ta.Từ tháng 4 đến tháng 10-1968, máy bay địch ném xuống đây 1.863 lần với gần 50 nghìn quả bom các loại (chưa kể rốc két và đạn 20mm). Ngày đánh nhiều nhất là 103 lượt máy bay, với hàng trăm quả bom các loại. Bầu trời Đồng Lộc hầu như không lúc nào ngớt tiếng gầm rú của máy bay địch, tiếng nổ của bom đạn, khói lửa mù mịt. Cả ngày lẫn đêm, máy bay Mỹ tập trung đánh phá, huỷ diệt các trận địa pháo cao xạ và các công trình giao thông. Ngã ba Đồng Lộc - một vùng đồi nhỏ hẹp, mặt đất không còn màu xanh cỏ cây, hố bom chồng chất hố bom. Âm mưu chốt chặn chi viện của đế quốc Mỹ tại “tọa độ lửa” bị thất bại hoàn toàn. Trên trọng điểm ác liệt, tàn khốc ở Ngã ba Đồng Lộc, đường vẫn thông, các đoàn xe vẫn nối đuôi nhau ra tiền tuyến góp phần chi viện kịp thời cho quân và dân miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.Lực lượng bộ đội với Trung đoàn pháo cao xạ 210 thuộc Sư đoàn 304, Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ bộ đội địa phương Hà Tĩnh và các đại đội trực chiến súng bộ binh của dân quân tại chỗ đã bám trụ chiến đấu kiên cường giữa bom đạn ác liệt, gió Lào nắng nóng, đánh hơn 1.076 trận. Trên trọng điểm ác liệt Ngã ba Đồng Lộc, hầu như ngày nào các đơn vị cũng có thương vong tổn thất Hồi 17h ngày 24/7/1968 tiểu đội 4 thanh niên xung phong được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lập hố bom sửa chữa đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Tiểu đội 4 hôm ấy có 10 cô gái trẻ: Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến tại hiện trường gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi. Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý ới gọi nhau. Bỗng một tốp máy bay phản lực từ h ướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm. Tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống đường. Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc. Bất ngờ tốp máy bay phản lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái. Các tiểu đội thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người. Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái trẻ ấy đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ từ 17 đến 22 tuổi.. Những tập thể, cá nhân được phong tặng anh hung: Đại đội 551 TNXP; tập thể 10 cô gái Tiểu đội 4 thuộc Đại đội 552, Tổng đội 55TNXP do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng cùng Hồ Thị Cúc, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Thị Hà, Dương Thị Xuân, Nguyễn Thị Xuân và Võ Thị Hợi đã bám trụ kiên cường ở Ngã ba Đồng Lộc trong những ngày bom đạn ác liệt nhất và cả 10 cô anh dũng hy sinh cùng một lúc giữa tuổi đời 18-20 trong một trận mưa bom của giặc Mỹ tại Ngã ba Đồng Lộc ngày 24-7-1968; Anh hùng La Thị Tám cắm tiêu đánh dấu hơn 1.500 quả bom nổ chậm; Anh hùng phá bom Vương Đình Nhỏ... và còn bao nhiêu tập thể, cá nhân mà sự tích anh hùng của họ còn sống mãi trong lòng đồng đội và nhân dân. Hơn thế, Ngã ba Đồng Lộc cùng 10 cô gái đã trở thành huyền thoại trong lòng người, là khúc tráng ca bất tử của tuổi trẻ trong cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước. Bài học lịch sử Ngã ba Đồng Lộc góp phần tái hiện một phần hiện thực lịch sử khốc liệt, hùng tráng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời nói lên tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường, dũng cảm không quản gian khổ, hy sinh của quân và dân ta.Qua bài học, góp phần làm phong phú tri thức, giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh. Bồi đắp tình cảm, niềm tự hào, biết ơn, trân trọng sự hy sinh xương máu của quân và dân ta trong những năm tháng hào hùng trên mãnh đất quê hương Hà Tĩnh. Các em nhận thức sâu sắc được mối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc; dùng kiến thức lịch sử dân tộc soi vào lịch sử địa phương và ngược lại. Từ đó, góp phần hình thành cho thế hệ trẻ lòng yêu quê hương, đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
 4.7.Tạo biểu tượng lịch sử bằng tài liệu về tiểu sử nhân vật lịch sử.
 Bằng những từ ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh khi miêu tả và nêu đặc điểm tiểu sử nhân vật lịch sử, HS sẽ có được biểu tượng rõ ràng, cụ thể về nhân vật đó. Trên cơ sở đó, hiểu bản chất nhân vật và những sự kiện lịch sử có liên quan đến nhân vật, rút ra nhận xét khái quát, đánh giá về vai trò của họ trong tiến trình lịch sử 
 Ví dụ 1: Khi dạy bài Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, GV cần tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử về chế độ độc tài gia đình trị, cần sử dung tài liệu về tiểu sử sau: Ngô Đình Diệm (1901 - 1963), Ngô Đình Nhu (1911 - 1963) là hai con của Ngô Đình Khả, một viên đại thần nhà Nguyễn dưới triều Thành Thái, Duy Tân. Quê ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đây là hai kẻ phản dân hại nước, chà đạp lên xương máu của dân tộc đồng bào. Thửa nhỏ đều học ở Huế, lớn lên Ngô Đình Nhu du học tại Pháp còn Diệm làm quan cho triều Huế. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Nhu được chính phủ cách mạng giao nhiệm vụ phụ trách nha thư viện và lưu trữ văn thư trung ương ở Hà Nội; nhưng sau đó y bỏ trốn sang Lào vào năm 1948 về sống ẩn dật ở Đà Lạt. Về phía Diệm, năm 1950 y sang Mỹ sống và học ở đại học Michêgan - Hoa Kỳ. Năm 1954 y được Bảo Đại mời làm thủ tướng, năm 1955 đảo chính lật đổ Bảo Đại. Từ đó hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trực tiếp dối đầu với cách mạng Việt Nam. Được nuôi dưỡng từ thế lực ngoại bang qua bàn tay tên trùm gián điệp Hồng Y Spellman, Diệm và gia đình y là tiêu biểu cho tầng lớp đại tư sản, đại địa chủ phản động đội lốt thiên chúa giáo. Nên để duy trì chính quyền, y cùng em trai đã thi hành chính sách khủng bố, diệt chủng đi ngược truyền thống dân tộc, ra sức phá hoại cách mạng Việt Nam. Ngày 1/11/1963 do hết giá trị lợi dụng, anh em Diệm - Nhu đã bị các thế lực khác do Mỹ dàn dựng, tổ chức giết chết trong cuộc đảo chính Diệm. Qua những nét tiểu sử cơ bản trên, HS có biểu tượng chính xác về hai anh em Diệm - Nhu, những kẻ phản bội dân téc, giống nòi cuối cùng đã bị lịch sử lên án và chõng trị. Các em hiểu được bản chất phản động của Diệm - Nhu, đánh giá được tội ác của chúng đối với dân tộc, căm ghét những hành động tàn bạo của chúng với quần chúng nhân dân. 
 Ví dụ 2: Khi tạo biểu tượng về nhân vật Nguyễn Văn Trỗi trong dạy học bài 25: Mục II: Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mĩ (1961 - 1965) .Tiêu biểu là chiến sĩ biệt đồng Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi. Tìm đến với cách mạng, hoạt động của anh chiến đấu chống kẻ thù là rất nhiều, nhưng tạo biểu tượng về nhân vật này không thể không khắc sâu sự kiện ngày 9/5/1964: anh được giao nhiệm vụ giết tên bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mácnamara – một tên trùm tội ác chiến tranh. Sau khi nghiên cứu quy luật đi về của Mácnamara, anh quyết định dùng cách đánh đặt mìn điểm hỏa bằng điện ở cầu Công Lý, đón tên Mácnamara trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh bị bại lộ, anh đã bị bắt. Giặc giam giữ và dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man hòng khuất phục anh nhưng không lay chuyển được tấm lòng kiên trung của anh đối với Tổ quốc. Chúng đã kết án tử hình và hèn hạ giết anh (10/1964). Những phút cuối cùng trên pháp trường anh đã hiên ngang vạch tội quân thù, khẳng định cách mạng Việt Nam sẽ thắng lợi. Trước làn đạn của quân thù, anh dõng dạc hô to: "Hồ Chí Minh muôn năm. Việt Nam muôn năm". Qua đoạn phân tích, tưởng thuật trên hình ảnh của anh hùng Trỗi hiện lên chân thật, sinh động và tác động mạnh mẽ đến cảm xúc của các em về hành động dũng cảm, tinh thần bất khuất, kiên cường của anh. Từ đó các em hình dung được sự anh dũng của hàng ngàn tấm gương hi sinh của cả một thế hệ dân tộc để bảo vệ tổ quốc, giành mà giữ trọn độc lập.
 Ví dụ khi dạy đến Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không 1972”, GV nên tạo cho HS biểu tượng nhân vật anh hùng Phạm Tuân: Sinh ra trong gia đình nông dân, tốt nghiệp lớp 10 sau một năm (15 tuổi), Phạm Tuân được gia nhập quân đội. Ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta vốn được bố trí khá xa và ngụy trang tốt. Liên lạc bị cắt, Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động với máy bay MIG- 21.Khi gặp B52, ông không chỉ hồi hộp, vì nếu sơ hở một chút, bật ra đa sớm thì F4 (máy bay bảo vệ B52) sẽ đuổi theo và bắn, B52 chạy mất. “Khi gặp B52 xung quanh có rất nhiều F4. Nguy hiểm lúc đó tôi không sợ mà chỉ sợ B52 chạy mất. Ông cố gắng làm sao để đạt tốc độ nhanh nhất, dù bay với tốc độ 1.600km/h mà vẫn thấy chậm vô cùng. Phạm Tuân cho biết: "Lúc đó, cả bầu trời đen kịt. Chốc chốc lại lóe lên những ánh sáng sau tiếng nổ đanh của những chùm bom rải thảm mà "pháo đài bay" B-52 của Mỹ mang đến Việt Nam. Khi tôi bay tiếp giáp địch 10km thì nhận được lệnh tấn công. Song tôi đã thực hiện mệnh lệnh đó chậm hơn, vì tôi muốn tiếp cận mục tiêu gần hơn nữa để ăn chắc. Cách cự li 3km, tôi được lệnh bắn thoát li bên trái... Phải đến lần thứ 3, khi cự li đã rút xuống còn 1,5-2km, tôi mới quyết định bắn".Phạm Tuân trở thành phi công đầu tiên hạ siêu pháo đài bay B52 và trở về an toàn; người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ và người Việt Nam đầu tiên ba lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tiếp đó khi từ vũ trụ trở về, ông được Đảng và Nhà nước ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Huân chương Hồ Chí Minh. Cũng năm đó (1980), ông cũng vinh dự trở thành một trong những người nước ngoài đầu tiên được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, kèm theo Huân chương Lê-nin khi mới 33 tuổi, cấp bậc thượng tá.
 4. 8.Tạo biểu tượng lịch sử bằng hình tượng hóa một hiện tượng lịch sử.
 Tác dụng: Phương pháp hình tượng hóa một hiện tượng lịch sử thường gắn liền với những hiện tượng và mối quan hệ phức tạp, giải thích lí luận và hình thành khái niệm bình thường thì HS không có biểu tượng cụ thể. Hình tượng hóa một hiện tượng lịch sử giúp các em dễ tiếp thu nội dung và hiểu rõ bản chất hiện tượng.
 Ví dụ: Khi dạy về Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phân tích đây là thất bại nặng nề nhất trong lịch sử nước Mĩ, GV cần tạo cho HS hình tượng Hội chứng VN : Người ta có thể gặp lại những ký ức nhức nhối khi tới thăm Bức tường Chiến tranh Việt Nam tại Washington DC - một trong những địa điểm thu hút nhiều du khách nhất khi tới thủ đô của Mỹ. Chỉ cao so với mặt đất vài mét, bức tường dài 75m gồm 72 tấm đá hoa cương đen quý hiếm ghép lại, tấm thấp nhất 20cm, cao nhất 3m, được đánh số thứ tự rất khoa học. Họ tên của hơn 58.000 lính Mỹ tử trận tại cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc lên đá hoa cương. Không có những biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, niềm vinh quang, lòng yêu nước hay bài học đạo đức thường thấy ở các đài tưởng niệm chiến tranh, Bức tường Chiến tranh Việt Nam chỉ là ký ức buồn đau của quá nhiều người Mỹ thời trai trẻ...
PHẦN KẾT LUẬN
 Mặc dù thời gian rất hạn chế nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả khả quan. Trước hết bản thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích môn học này hơn.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_tao_bieu_tuong_lich_su_trong_day_hoc_l.doc