Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)

Tích hợp trong dạy học nói chung, lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong giáo dưỡng , giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượnghóa. Sự phát triểnnhanh chóng của khoa học kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục. Từ cách tiếp cận nội dung, giáo dục chuyểnsang tiếp cận năng lực. Điều đó đặt ra những yêu cầu về nguyên tắc và phương pháp giáo dục theo hướng tích hợp để giải quyết vấn đề đặt ra trên đây.

Tài liệu văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứa nhiều tiềmnăng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học lịch sử, góp phần nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh.

Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử nói chung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những năm qua.

Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy học Lịch sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa ra các phương pháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử.

doc 81 trang SKKN Lịch Sử 19/11/2025 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)

Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)
 trăng lặn, buổi tan mẹ về...”
 (Trích “Phá đường” – Tố Hữu”)
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp kiểm tra kể hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch. Người đã viết bài thơ Lên núi:
“ Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.”
(“Lên núi” – Hồ Chí Minh)
+ Giáo viên kết hợp cho học sinh quan sát hình ảnh bức hình: Bác Hồ thăm một đơn vị tham gia chiến dịch Biên giới đóng quân ở huyện Phúc Hòa, Cao Bằng. Giáo viên kết hợp giới thiệu: Hồ Chủ Tịch giản dị trong bộ quần áo kaki, bên ngoài Người khoác chiếc áo choàng quen thuộc. Trên người Bác là những tư trang cần thiết Người tự mang theo như túi đựng tài liệu, bi đông đựng nước...Người đến trước hàng quân, thân mật thăm hỏi, động viên các chiến sĩ. Thái độ ân cần, chu đáo của Bác làm cho các anh bộ đội và du kích vô cùng phấn khởi, cảm động.
GV cho học sinh xem đoạn video về chiến dịch Biên giới, tích hợp kiến thức Địa lí và văn học:
- Sáng ngày 16-9-1950: quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn chiến dịch. Đông Khê là một cứ điểm, địch tương đối yếu (có 1 tiểu đoàn), nhưng lại là vị trí trọng yếu, mất Đông Khê, địch phải cho quân ứng cứu, Cao Bằng phải rút chạy ta có cơ hội tiêu diệt quân tiếp viện và quân rút chạy của địch. Hơn nữa, Đông Khê ở xa Hà Nội, nếu địch tiếp viện cũng mất nhiều thời gian. Vì vậy, ta quyết định đánh Đông Khê. Tác phẩm "Không phải huyền thoại" của Hữu Mai đã viết về trận đánh Đông Khê như sau:
“ 6 giờ sáng ngày 16 tháng 9, một loạt pháo 75 ly của ta nổ giòn báo hiệu mở màn chiến dịch. Pháo ta bắn trúng các mục tiêu. Quân địch bị bất ngờ, đối phó rất lúng túng. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ ngày 18 tháng 9 năm 1950 mới kết thúc”. Trong trận đánh này đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu và hi sinh dũng cảm tuyệt vời. Đó là Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai mở đưởng cho đơn vị xông lên tiêu diệt đồn địch; Lý Văn Mưu bị thương đã dùng bộc phá lao vào phá hủy lô cốt giặc; La Văn Cầu bị thương vào cánh tay đã không chút do dự nhờ đồng đội chặt đứt khỏi vướng để tiếp tục lao lên đánh bộc phá, hoàn thành nhiệm vụ. Các nữ dân công Đinh Thị Dậu, Triệu Thị Soi nhiều lần băng mình qua lửa đạn cứu thương binh, tiếp đạn cho bộ đội.
- Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta tiêu diệt được vị trí Đông Khê. Thất Khê bị uy hiếp trực tiếp. Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập. Thế trận phòng thủ trên đường số 4 của địch bị rung chuyển. 
- Đúng như ta phán đoán, Đông Khê thất thủ đã gây nên phản ứng dây chuyền trong giới cầm quyền quân sự và chính trị Pháp. Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải ra lệnh rút quân khỏi Cao Bằng theo đường số 4. Kế hoạch trên được thực hiện bằng một cuộc hành quân kép. 
+ Một mặt, địch cho binh đoàn từ Thất Khê do Lơ Pa giơ chỉ huy lên chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng do Sác tông chỉ huy kéo về.
+ Mặt khác, chúng huy động hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ mở chiến dịch mang tên Phô cơ đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, hi vọng thu hút chủ lực của ta ở mặt trận biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận trước việc thất thủ Đông Khê.
- Nắm được ý đồ của địch, quán triệt phương châm “đánh điểm diệt viện”, trên mặt trận Biên giới, bộ đội ta kiên nhẫn, mai phục chờ đánh quân tiếp viện.
- Sau một thời gian chuản bị, ngày 30-9-1950, địch cho binh đoàn Lơ pa giơ tiến lên Đông Khê, binh đoàn của Sác tông ở Cao Bằng cũng bắt đầu rút về. Bộ chỉ huy mặt trận chủ trương tập trung lực lượng, tiêu diệt từng cánh quân địch. Trải qua 8 ngày chiến đấu ác liệt tại khu vực núi Cốc Xá và khu đồi 477 ở phía tây Đông Khe, bằng chiến thuật vận động chiến, quân ta tiêu diệt và bắt gọn hai binh đoàn địch gồm 7 tiểu đoàn. Ngày 8-10: địch cho một tiểu đoàn do Đờ la Bôm chỉ huy kéo lên định ứng cứu cho Lơ Pa giơ và Sác tông cũng bị đánh tan. Kế hoạch rút quân của địch hoàn toàn sụp đổ. 
Liên tiếp từ ngày 10 đến ngày 23-10, địch lần lượt rút khỏi các vị trí: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu. Trong quá trình rút chạy, địch bị quân ta truy kích, tiêu diệt thêm một phần lực lượng.
- Phối hợp với mặt trận Biên giới, trên các chiến trường khác quân ta tích cực đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch.
+ Tại mặt trận Tây Bắc quân và dân ta hoàn thành nhiệm vụ đánh nghi binh, vừa tiêu diệt và buộc địch.
+ Tại Việt Bắc cuộc tấn công lên Thái Nguyên của 6 tiểu đoàn địch đã bị quân và dân ta đập tan. Ngày 11-10 quân Pháp buộc phải rút khỏi thị xã Thái Nguyên.
+ Ở chiến trường Bắc Bộ quân ta đánh mạnh, tiêu diệt 700 địch, buộc chúng phải rút 44 vị trí trong đó có thị xã Hòa Bình.
+ Ở Bình Trị Thiên, quân ta mở chiến dịch Phan Đình Phùng, đột nhập thị xã Quảng Trị, đánh mìn trên đoạn đường Huế - Đà Nẵng ngăn không cho chúng đưa quân ra Bắc Bộ.
Tích hợp kiến thức Văn học: Giáo viên sử dụng tư liệu trong tác phẩm “Dọn về làng” (Nông Quốc Chấn) để học sinh hiểu được kết quả, ý nghĩa của chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950.
“ Mẹ! Cao - Lạng hoàn toàn giải phóng
Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn
Vệ quốc quân chiếm lại các đồn
Người đông như kiến, súng dày như củi.
...
Hôm nay Cao - Bắc - Lạng cười vang
Dọn lán, rời rừng, người xuống làng
Người nói cỏ lay trong ruộng rậm
Con cày mẹ phát, ruộng ta quang.
Ðường cái kêu vang tiếng ô tô.
Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ.
Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá...”
(Trích: “Dọn về làng” – Nông Quốc Chấn)
Bước 5: Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy về chiến dịch Biên giới để khắc sâu kiến thức cho học sinh.

2. Chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950
a. Chủ trương của Đảng
- Tháng 6/1950, Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm: 
+ Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch;
+ Khai thông biên giới Việt – Trung, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc;
+ Tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên.
b. Diễn biến:
- Ngày 16/9/1950, quân ta mở màn đánh Pháp ở cứ điểm Đông Khê. Quân địch ở Thất Khê bị uy hiếp, thị xã Cao Bằng bị cô lập, hệ thống phòng ngự của địch trên đường số 4 bị lung lay.
- Pháp hạ lệnh rút quân khỏi Cao Bằng, thực hiện cuộc “hành quân kép”: điều quân từ Thất Khê lên tái chiếm lại Đông Khê và đón quân từ Cao Bằng về.
- Quân ta mai phục trên đường số 4, chặn đánh các cánh quân địch khiến chúng không gặp được nhau, địch trở nên hoảng loạn.
- Ngày 22/10/1950, quân Pháp rút chạy khỏi đường số 4, chiến dịch kết thúc thắng lợi.
c. Kết quả, ý nghĩa:
- Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8000 tên, giải phóng và khai thông biên giới Việt - Trung dài 750 km với 35 vạn dân, chọc thủng “Hành lang Đông - Tây”. Kế hoạch Rơve của Pháp phá sản.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới: giành thế chủ động trên chiến trường chính ở Bắc Bộ.
4. Củng cố bài học
Bảng hệ thống kiến thức về chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 và chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950
Nội dung
Chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947
Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950
Hoàn cảnh lịch sử


Diễn biến


Cách đánh


Kết quả


Ý nghĩa


5. Hướng dẫn về nhà
- Xem lại kiến thức đã học và lập niên biểu những sự kiện tiêu biểu của bài.
- Đọc trước bài 19 để tìm hiểu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 - 1953) có bước phát triển mới như thế nào?
4.5.3 ĐỀ KIỂM TRA
I. PHẦN TỰ LUẬN
Câu 1. Em hãy cho biết, đoạn thơ sau được trích trong tác phẩm nào? Của ai? Đoạn thơ ấy viết về thắng lợi nào của quân và dân ta trong kháng chiến chống Pháp? Nêu ý nghĩa của chiến thắng đó.
“Anh kể chuyện tôi nghe
Trận chợ Đồn, chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha hả
Rồi Bông Lau, Ỷ La
Ba trăm thằng tan xác
Cành cây móc thịt da
Thối inh rừng Việt Bắc...”
.............
II. PHẦN TRẮC NGHIỆM
Câu 1. Em hãy khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng
1. Âm mưu chính của Pháp khi tấn công lên Việt Bắc là
A. mở rộng phạm vi chiếm đóng.
B. thăm dò lực lượng chủ lực của ta.
C. nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
D. tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não của ta.
Câu 2. Kết quả quan trọng nhất của ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 là
A. buộc quân Pháp phải rút lui.
B. căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng.
C. loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô.
D. cơ quan đầu não kháng chiến của ta được bảo toàn, bộ đội chủ lực ngày càng trưởng thành.
Câu 3. Chiến thắng Việt Bắc- thu đông năm 1947 có ý nghĩa
A. buộc Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và kí hiệp định hòa bình với ta.
B. đưa cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp của ta chuyển sang giai đoạn mới.
C. tạo niềm tin trong nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
D. thử nghiệm đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng ta.
Câu 4. Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh ở Đông Dương sang
A. đánh nhanh thắng nhanh.
B. đánh lâu dài.
C. dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.
D. tiến công chiến lược trên toàn miền Bắc.
Câu 5. Sau thất bại ở Việt Bắc, được sự đồng ý của Mĩ, Chính Phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve nhằm mục đích
A. mở rộng phạm vi chiếm đóng ra toàn miền Bắc.
B. tấn công lên Việt bắc để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.
C. tấn công lên Việt Bắc lần thứ hai để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
D. thiết lập “Hành lang Đông – Tây” (Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La) để cô lập căn cứ địa Việt Bắc.
Câu 6. Ý nghĩa quan trọng nhất của chiến thắng Biên giới thu đông năm 1950 là
A. ta loại khỏi vòng chiến đấu 8000 địch.
B. ta chọc thủng “hành lang Đông – Tây” của Pháp.
C. ta giành được quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ và mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.
D. ta giải phóng một vùng biên giới Việt – Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân.
Đáp án: 
Phần tự luận: 
Câu 1. Đoạn thơ được trích trong bài thơ “Cá nước” của Tố Hữu; nói về thắng lợi của quân dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947.
 Ý nghĩa của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947: Làm phá sản âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng chuyển sang “đánh lâu dài” bằng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.
Phần trắc nghiệm: 1-C; 2-D; 3-B; 4-B; 5-C; 6-C.
KẾT LUẬN
Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 lớp 12 – ban cơ bản, tôi nhận thấy việc dạy học theo hướng tích hợp góp phần giúp giáo viên linh hoạt, sáng tạo trong dạy học, giúp học lĩnh hội kiến thức Lịch sử một cách khoa học, có hệ thống và sâu sắc hơn.
Với việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong bài học Lịch sử giúp các em thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức của nhiều môn học mà các em được học trong chương trình phổ thông, các em thêm yêu thích các môn học, nâng cao hứng thú khi học Lịch sử.
Mặt khác các em cũng hình thành cho mình năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề nhất là những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động học tập.
7.2 Khả năng áp dụng sáng kiến:
- Qua nghiên cứu về lí luận và phương pháp thực hiện dạy học tích hợp ở trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc, tôi nhận thấy việc thực hiện dạy học tích hợp mang lại kết quả cao, giúp học sinh hứng thú, sáng tạo trong quá trình học tập.
- Để phát huy hơn nữa khả năng sáng tạo của học sinh khi thực hiện dạy học tích hợp, giáo viên cần áp dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong quá trình dạy học như: phương pháp dạy học dự án, phương pháp bàn tay nặn bột, các kĩ thuật dạy học KWL; kĩ thuật mảnh ghép...
8. Những thông tin cần được bảo mật: không
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên cần đưa ra các phương pháp dạy học phù hợp với năng lực và trình độ nhận thức của học sinh.
- Việc thực hiện tích hợp kiến thức cần đảm bảo tính vừa sức, khoa học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh trong học tập; tránh việc tích hợp lan man; khiên cưỡng; tích hợp quá nhiều nội dung trong một bài học.
- Việc thực hiện tích hợp cần hướng học sinh tới việc giúp học sinh vận dụng kiến thức các môn học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống.
- Việc kiểm tra đánh giá trong dạy học tích hợp cần hướng tới việc đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến
10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 
 Qua quá trình thực nghiệm thiết kế giáo án: Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 lớp 12 – ban cơ bản, tôi nhận thấy việc dạy học theo hướng tích hợp góp phần giúp giáo viên linh hoạt, sáng tạo trong dạy học, giúp học lĩnh hội kiến thức Lịch sử một cách khoa học, có hệ thống và sâu sắc hơn.
Với việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong bài học Lịch sử giúp các em thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức của nhiều môn học mà các em được học trong chương trình phổ thông, các em thêm yêu thích các môn học, nâng cao hứng thú khi học Lịch sử.
Mặt khác các em cũng hình thành cho mình năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề nhất là những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động học tập.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức:
 - Đề tài nghiên cứu có tính khả thi, và ứng dụng vào thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong giờ học Lịch sử ở trường phổ thông.
 - Giúp học sinh có niềm say mê và hứng thú với môn học, hình thành và phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh.
 11. Danh sách những cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu:
Số TT
Tên tổ chức/cá nhân
Địa chỉ
Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến
1
Phạm Thị Thanh Hảo
Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc
Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 (Lớp 12 ban cơ bản).

2
Bùi Thị Nga
Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc
Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 (Lớp 12 ban cơ bản).

Tam Dương, ngày.....tháng......năm 2018
Thủ trưởng đơn vị/
(Ký tên, đóng dấu)
Tam Dương , ngày 20 tháng 02 năm 2018
Tác giả sáng kiến
(Ký, ghi rõ họ tên)
Phạm Thị Thanh Hảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phương pháp dạy học lịch sử.
Diane Tillman (2000), Chương trình giáo dục: Các giá trị cuộc sống (các hoạt động giá trị dành cho thanh niên).
Giáo dục giá trị và kĩ năng sống cho HS THPT (2010), (Tài liệu tập huấn giáo viên THCS, THPT), Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
Lịch sử lớp 12. Nxb Giáo dục.
Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 12.
Tài liệu tập huấn: Dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT – Bộ Giáo dục và Đào tạo.
 Thơ ca cách mạng 1930 - 1945
 Thơ ca cách mạng 1945 - 1954
 Hồi kí Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên.
Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài viết trên tạp chí, các sáng kiến kinh nghiệm trên Internet. 

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_tich_hop_kien_thuc_van_hoc_dia_li_tron.doc
  • docxbia_lot.docx
  • docxdon_cong_nhan_sang_kien.docx
  • docphieu_dang_ky_viet_sang_kien.doc
  • docxphu_luc.docx
  • docxtrang_bia.docx