Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp thơ ca vào giảng dạy chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông

Trong nhiều năm qua việc học tập bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông có nhiều sa sút, biểu hiện rõ nhất là kỳ thi THPT quốc gia vừa qua, số lượng ít chất lượng làm bài yếu kém. Nguyên nhân do học sinh chưa nhận thức đúng về bộ môn lịch sử, đa phần học sinh làm bài không nắm được trọng tâm kiến thức, các giai đoạn phát triển của lịch sử, các khái niệm … Vì vậy trong quá trình làm bài các em thường lúng túng viết sai lệch các sự kiện, không nắm được trọng tâm yêu cầu đặt ra. Điều này được phản ánh rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Giảng dạy và học tập môn lịch sử có sự hấp dẫn riêng của nó, giúp mọi người có thể hiểu biết về một dân tộc trong bối cảnh mà có văn hóa, kinh tế, chính trị... Xã hội phát triển không ngừng theo quy luật song có những giai đoạn đều có sự thăng trầm trong lịch sử của một xã hội, một nhân vật lịch sử mà trong đó có bi hùng, sự hấp dẫn của quyền lực, sự sa đọa hay phát triển của một giai cấp thống trị, sự cùng cực hay phồn thịnh của nhân dân, sự thành công hay cay đắng ... đã tạo sức hấp dẫn cho mỗi người, mỗi chế độ qua đó mà ngẫm nghĩ về thời cuộc, số phận và tương lai rồi sẽ ra sao.

doc 17 trang SKKN Lịch Sử 17/11/2025 130
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp thơ ca vào giảng dạy chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp thơ ca vào giảng dạy chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông

Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp thơ ca vào giảng dạy chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông
:
“ Than ôi, nước mất nhà xiêu
Thế không chịu nổi, liệu chiều tính mau.
Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước, bước lên
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Anh Sơn, Hà Tĩnh 1 phen dậy rồi
. Trên gió cả cờ đào phất thẳng
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Chiến trường một trận xông pha
Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng”
(Thơ văn cách mạng 1930 – 1945 NXB Văn học)
*Ví dụ 4: Dạy bài 15: Phong trào dân chủ 1936 -1939
          Để khắc sâu phong trào cách mạng 1936 - 1939 thực sự là một phong trào dân tộc dân chủ rộng lớn từ Bắc đến Nam, lôi cuốn đông đảo các lực lượng tham gia với mục tiêu trước mắt "Tự do, cơm áo, hoà bình". Có ý nghĩa là cuộc tập dượt lần thứ hai cho thắng lợi cuộc cách mạng tháng tám. Giáo viên có thể minh hoạ bằng đoạn thơ sau:
"Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên
Đòi cơm áo, đòi quyền dân chủ.
Đường càng đi đội ngũ càng đông.
Suối ngàn đã chảy thành sông!
Đố ai tát cạn được dòng nước xuôi"
(Tố Hữu)
* Ví dụ 5: Bài 16. Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945 ) Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Mục 3 (II): Nguyễn ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị Trung ương 8 Ban Chấp hành Đảng cộng sản Đông Dương
- Nhằm khắc họa hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và tình cảm của Người khi trở về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, có thể khai thác sử dụng:
“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Sáng rừng Việt Bắc trắng hoa mơ
Người về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ
Bác đã về đây Tổ Quốc ơi
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mãi đến bây giờ mới tới nơi.”
(Tố Hữu-SĐD)
- Mở rộng thêm về Mặt trận Việt Minh, để khắc hoạ hình ảnh của chiến khu Việt Bắc, có thể sử dụng thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“ Có mười chính sách bày ra
Một là ích nước, hai là lợi dân
Bao nhiên thuế ruộng, thuế thân
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương
Họp hành, đi lại có quyền tự do
Nông dân có ruộng, có bò,
Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.
Công nhân làm lụng gian nan
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.
Gặp khi tai nạn bất ngờ
Thuốc thang Chính phủ bây giờ giúp cho.
Thương nhân buôn bán nhỏ to
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền
Nào là những kẻ chức viên
Cả lương đãi ngộ cho yên tấm lòng
Binh lính giữ nước có công
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu
Thanh niên có trường học nhiều
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho
Đàn bà cũng được tự do
Bất phân nam nữ đều cho bình quyền
Người tàn tật, kẻ lão niên
Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho
Trẻ em bố mẹ khỏi lo
Dạy nuôi, chính phủ giúp cho đủ đầy”
(Hồ Chí Minh - Lịch sử nước ta – Tập 3, Tr 152, 153)
- Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng tám (1939-1945), để giúp học sinh thấy được không khí cách mạng sôi sục dâng trào, vai trò quần chúng đã làm nên lịch sử và củng cố nhận thức, tư tưởng của các em làm cho các em càng khắc sâu truyền thống anh hùng của dân tộc.
Đồng cỏ héo đã bùng lên lửa cháy
Nước non ơi hết thảy vùng lên
Bắc, Trung, Nam khắp 3 miền
Toàn dân khởi nghĩa chính quyền về tay.
- Sự kiện Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, nhà thơ Tố Hữu viết:
“ Hôm nay sáng mồng hai, tháng chín
Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ chim cũng nín
Bỗng vang lên câu hát ân tình
Hồ chí minh! Hồ chí minh!
Người đọc tuyên ngôn rồi chợt hỏi:
Đồng bào nghe tôi nói rõ không?
Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi.
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng
Cả muôn triệu một lời đáp : Có !
Như Trường Sơn say gió Biển Đông”
Bài thơ này giúp học sinh dễ nắm không gian và thời gian Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, giáo dục cho học sinh tình cảm thân thương, gần gũi dành cho Hồ Chủ Tịch.
* Ví dụ 6: Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)
Giúp học sinh thấy rằng lời kêu gọi của Bác, là tiếng gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh của cách mạng tiến công dục dã soi đường chỉ lối, là lời hiệu triệu của triệu triệu trái tim Việt Nam đứng dậy cứu nước. (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đêm ngày 16- 12- 1946)
“..Giọng của Người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước
Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau...”
Hoặc 
“Có gươm, có súng, có dao hãy dùng
Quyết kháng chiến đến cùng cứu nước!
Toàn dân trông phía trước, tiến lên!
Nửa đêm vang tiếng lệnh truyền
Phố giăng chiến lũy, đường xuyên chiến hào...”
- Trong chiến dịch Việt Bắc- Thu Đông năm 1947 qua thơ ca giúp học sinh xác định được các địa danh trong chiến dịch.
Anh kể chuyện tôi nghe
Trận chợ Đồn chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha ha
Trong những năm 1948 - 1949 ta thực hiện kháng chiến toàn dân toàn diện, đặc biệt là: Đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Để giúp học sinh nắm được khái niệm"Chiến tranh du kích" và ý nghĩa của chủ trương này, giáo viên có thể minh hoạ bằng bài thơ của Bác viết năm 1948 về "Kinh nghiệm du kích Pháp"
    " Bất kỳ trẻ hay già...
                             Đánh du kích
                             Không có súng ta dùng dao
                             Ta dùng cuốc
                             Ta dùng cào
                             Ta lấy đòn gánh
                             Ta nhổ cọc rào
                             Đánh cho chúng nhào"
* Ví dụ 7: Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953 - 1954)
Giáo viên có thể sử dụng các tác phẩm văn học viết về Điện Biên Phủ trong thời kì này vào bài giảng. Giáo viên có thể trích dẫn câu thơ sau để khắc sâu về sự hi sinh gian khổ. Nhưng chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ Điện Biên: 
“Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt
Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không sờn...
Chín năm là một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vang ...”
 “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” (Tố Hữu)
- Phần chiến dịch Điện Biên Phủ qua khổ thơ học sinh thấy được sự đồng lòng đồng sức của nhân dân ta. 
                                    Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
                                     Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
                                                       Hoặc
                                    Súng nổ rung trời giận dữ
                                    Người lên như nước vỡ bờ
                                     Nước Việt Nam từ máu lửa
                                     Rủ bùn đứng dậy sáng loà 
                                                         ( Nguyễn Đình Thi)   
 - Phần Hiệp Định Giơnevơ năm 1954 sự chia cắt đất nước chỉ là tạm thời
Sông Bến Hải bên bồi bên lỡ
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
Cách chia mười mấy năm trường
Khi mô mới nối được đường vô ra
- Một giới tuyến quân sự tạm thời nhưng đế quốc Mĩ đã âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài Nam- Bắc ngăn cách.
Ta lớn lên giặc ngăn chia đất nước
Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hoá hướng dương
(Lê Anh Xuân)
* Ví dụ 8: Bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam
Với chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo luật 10/59 của Mĩ Diệm .Qua khổ thơ của Tố Hữu học sinh thấy được tộ ác của Mĩ- Ngụy.
“...Có những ông già chúng khảo tra
Chẳng khai nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra...”
 (Tố Hữu)
- Khi nói đến Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965)         
 	Hỡi Miền Bắc đó nặng đôi vai
Gánh cả non sông vượt dặm dài
Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
Hoặc là
Từ ngày anh đi ruộng đồng em đảm đang
Ruộng chẳng chăng dây cây lúa thẳng hàng
Đào đắp đê khơi nước vào làng.
- Qua các khổ thơ trên học sinh thấy được sự quyết tâm thi đua giữa hậu phương và tiền tuyến cùng đồng lòng chung sức lập công và tin tưởng ngày chiến thắng
*Ví dụ 9: Bài 22 : Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965-1973)
Khi nói đến chiến tranh phá hoại lần 2 của Mĩ với 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng
Chúng muốn biến ta thành tro bụi
Ta hoá vàng nhân phẩm lương tâm
Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơm ngat giữa đầm.
Cả bốn biển hoan hô Hà Nội
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ
( Tố Hữu )
*Ví dụ 10: Dạy bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)
Mục IV: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Phân tích về nguyên nhân truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc ta giáo viên có thể minh hoạ bằng những đoạn thơ sau:
"Dân ta gan dạ anh hùng
Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn "
" Tuốt gươm không chịu sống quỳ
Tuổi xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu 
Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành "
Qua các khổ thơ trên góp phần tạo cho học sinh nắm được  truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất. Là cơ sở hình thành nhân cách, lối sống và tự hào về truyền thống dân tộc đây là nền tảng  giúp học sinh hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn lịch sử, là cơ sở phương pháp luận để học sinh chủ động nắm bắt thông tin cũng như, sưu tầm thơ ca nhằm tiếp cận các sự kiện lịch sử chính xác khoa học, làm cho tiết học sôi nổi và đạt kết quả cao, khắc sâu vào tâm trí học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Khi áp dụng các biện pháp đã nêu trên vào quá trình giảng dạy tôi thấy học sinh học hứng thú hơn, nhớ lâu hơn, nhận thức đúng về các nhân vật, các sự kiện lịch sử. Học sinh không chỉ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức khi tiếp xúc với văn học mà những hình tượng văn học điển hình còn tạo hứng thú học tập lịch sử cho các em, góp phần làm các em thực sự, say mê, hứng thú học tập lịch sử. 
Sử dụng thơ ca trong dạy học lịch sử làm cho những kiến thức lịch sử không còn khô khan cứng nhắc vốn như những gì nó đã diễn ra. Sử dụng thơ ca trong dạy học lịch sử có tác dụng phát huy trí tưởng tượng của học sinh.
 Học sinh không thấy e ngại với những câu hỏi, bài tập lịch sử, học sinh tự tin, hăng say xây dựng bài
 Kết quả trước và sau khi áp dụng như sau:
 Thực trạng trước khi sử dụng
 Kết quả sau khi sử dụng
 Lớp
 Tỉ lệ ( trên trung bình )
 Lớp
 Tỉ lệ ( trên trung bình )
12 B1
12 B3
12 B4
12 B7
12 B9
45 %
46 %
35,5 %
40,5 %
45,2 %

12 B1
12 B3
12 B4
12 B7
12 B9
50%
55,3 %
47,5 %
61 %
65 %

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
	Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu trên của đề tài, Tôi có một số ý kiến.
	Qua nghiên cứu chúng ta có thể thấy việc đưa các nội dung phong phú vào bài giảng kích thích tính chủ động sáng tạo của học sinh nó không chỉ giúp các em biết sử, hiểu sử mà con biết vận dụng vào cuộc sống đây là nội dung khá mới mẻ trong phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh. 
	Tích hợp thơ ca thông qua dạy học lịch sử tạo biểu tượng sử có tác dụng rất lớn trong việc phát triển nhận thức, hình thành nên những tư tưởng tình cảm tốt đẹp trong các em, trau dồi cho các em đức tính, phẩm chất, đạo đức cần phải có của người công dân.
Sử dụng phương pháp tích hơp kiến thức thơ ca trong dạy học lịch sử có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển tư duy và tạo hứng thú học tập cho học sinh. Thông qua bài học các em được tái hiện kiến thức, sự kiện lịch sử qua những vần thơ giàu màu sắc, giàu tính nghệ thuật. Qua đó các em sẽ đam mê hơn đối với bộ môn.
Tuy nhiên mọi phương pháp đề ra phải luôn xuất phát từ thực tiễn giáo dục hiện nay. Để dạy tốt nội dung này giáo viên cần phải có một giải pháp sư phạm cần thiết giúp các em tiếp cận tri thức, không lạm dụng đưa quá nhiều thơ vào trong tiết dạy lịch sử. Có như vậy mới nâng cao hiệu quả dạy học, tạo hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nâng cao kết quả môn lịch sử trong các kì thi. Hãy đưa môn lịch sử trở về đúng với vị trí và ý nghĩa của nó.
 	 Trong quá trình nghiên cứu và viết, chắc chắn đề tài sáng kiến kinh nghiệm này còn có những hạn chế, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
3.2. Kiến nghị
	Cần được sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp quản lí, phụ huynh học sinh và toàn xã hội đối với môn lịch sử. Nâng cao chất lượng đội ngũ bắt đầu từ chính sách, cơ chế vào ngành sư phạm
	Tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, tham quan đi thực tế các di tích, qua đó giáo dục học sinh tôn trọng  giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA 
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác
 Người viết
 Nguyễn Ngọc Thanh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa, bài tập lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Sách giáo viên, bài tập lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Sách bài tập lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Tài liệu hội thảo tập huấn : Đổi mới nội dung và phương pháp dạy lịch sử
5. Hoạt động dạy học ở trường THPT - Nhà xuất bản Giáo dục.
6. Phương pháp dạy học lịch sử của - Nhà xuất bản Giáo dục.
7. Phương pháp dạy học lịch sử.Chủ biên GS Phan Ngọc Liên-Nhà xuất bản giáo dục
8. Chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử. Đồng chủ biên GS Phan Ngọc Liên,PGS Trịnh Đình Tùng,PGS Nguyễn Thị Côi ,TS Trần Vĩnh Tường.
9. Thiết kế bài giảng lịch sử 12 cơ bản - Nhà xuất bản Hà Nội
10.Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng cho học sinh.TS Đặng Vũ Hồ. ĐH sư phạm Huế.
MỤC LỤC

Trang
1. MỞ ĐẦU.............................................................................................
1
1.1. Lý do chọn đề tài...............................................................................
1
1.2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.......................................................
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................
3
2. NỘI DUNG .......................................................................................
4
2.1. Cơ sở lí luận ....................................................................................
4
2.2. Thực trạng của vấn đề ......................................................................
5
2.3. Một số giải pháp tích hợp kiến thức thơ ca vào giảng dạy một số bài ............................................................................................................
6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến......................................................................
13
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
12
3.1. Kết luận.............................................................................................
15
3.2. Kiến nghị..........................................................................................
15
Tài liệu tham khảo
16

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_tich_hop_tho_ca_vao_giang_day_chuong_t.doc