Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 5

Trong nhà trường phổ thông, bộ môn lịch sử là một trong những bộ môn có tầm quan trọng và có tính giáo dục rất lớn, nó cung cấp cho học sinh một bức tranh sinh động về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc. Từ đặc điểm bộ mônvà yêu cầu thực tế, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nhằm giúp học sinh hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của học sinh, giúp học sinh tư duy và nắm được nội dung kiến thức trọng tâm.Vì vậy người giáo viên nên sử dụng kiến thức liên môn như: Địa, công dân, văn học,... những bộ môn đó làm cho giờ học lịch sử sống động hơn, hấp dẫn học sinh hơn. Trong đó, nếu giáo viên biết vận dụng một số câu trích dẫn, câu văn, câu thơ, đoạn trích để miêu tả tường thuật một sự kiện, một cuộc đời hoạt động của nhân vật, một cuộc cách mạng...sẽ làm phong phú tri thức học sinh, giúp học sinh yêu thích, hứng thú say mê học tập môn lịch sử và sẽ làm bớt đi sự khô khan của giờ học môn lịch sử. Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, tôi xin trình bày một số vấn đề về việc: “ Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 5”. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên có một giờ dạy học có hiệu quả tốt hơn, học sinh tự giác, chủ động lĩnh hội kiến thức và ngày càng yêu thích học môn lịch sử.
doc 23 trang SKKN Lịch Sử 17/11/2025 150
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 5

Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 5
âu địa danh cách mạng trong thời kì này: 
“.... Than ôi, nước mất nhà xiêu
Thế không chịu nổi, liệu chiều tính mau
Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước, bước lên
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Anh Sơn, Hà Tĩnh 1 phen dậy rồi......... 
Trên gió cả cờ đào phất thẳng
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Chiến trường một trận xông pha
Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng....”
Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám năm (1939- 1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Mục 3: Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (5- 1941) . Khi nói đến sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước ngày 28/1/1941 giáo viên liên hệ:
“Ôi sáng xuân nay, xuân 41!
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về im lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ
Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi”
 (Trích: "Theo chân Bác" của Tố Hữu)
Qua bài thơ này học sinh dễ dàng nhớ được mốc thời gian Bác Hồ về nước là mùa xuân năm 1941 và năm ra đi tìm đường cứu nước là 1911 ( ba mươi năm ấy...). Để thấy không khí cách mạng sôi sục dâng trào, ta liên hệ các câu thơ sau: “Đồng cỏ héo đã bùng lên lửa cháy
Nước non ơi hết thảy vùng lên
Bắc, Trung, Nam khắp 3 miền
Toàn dân khởi nghĩa chính quyền về tay”. 
Học sinh thấy được vai trò quần chúng để làm nên lịch sử, củng cố nhận thức, tư tưởng của các em làm cho các em càng khắc sâu truyền thống anh hùng của dân tộc.
Ở mục 3 :Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và mục IV: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập (2-9-1945). Khi nói về lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố, giáo viên cần trích đoạn:
“Việt Nam độc lập đồng minh 
Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây
 Quyết làm cho nước non này
 Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền....
Rồi ra sự nghiệp hoàn thành
 Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
 Khuyên ai nên nhớ chữ đồng
 Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
 (Bản diễn ca: "Mười chính sách của Việt Minh" của Hồ Chí Minh)
Bản diễn ca này giúp cho chúng ta nắm được các chính sách của mặt trận Việt Minh. Khi nói về sự kiện Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, nhà thơ Tố Hữu viết:
“Hôm nay sáng mồng hai, tháng chín
Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ chim cũng nín
Bỗng vang lên câu hát ân tình
Hồ chí minh! Hồ chí minh!...
Người đọc tuyên ngôn rồi chợt hỏi: 
Đồng bào nghe tôi nói rõ không?
Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng
Cả muôn triệu một lời đáp: Có !
Như Trường Sơn say gió Biển Đông...”
Bài thơ này giúp học sinh dễ nắm không gian và thời gian Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, giáo dục cho học sinh tình cảm thân thương, gần gũi dành cho Hồ Chủ Tịch; khắc họa hình tượng Bác Hồ vĩ đại, làm cho các em nhớ mãi không quên ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950).Mục I: Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ; Giáo viên dẫn lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hỡi đồng bào toàn quốc!Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Hỡi đồng bào!Chúng ta phải đứng lên!Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc xuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!Giờ cứu nước đã đến, ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước, dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
Lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất ngắn gọn và súc tích, lời kêu gọi đã nói rõ được âm mưu của thực dân Pháp và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt Nam, qua đó học sinh biết được khí thế cách mạng của những năm đầu kháng chiến chống Pháp
Hoặc: Giọng của Người không phải sấm trên cao
 Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước
 Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước
 Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau
Học sinh thấy rằng lời kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh của cách mạng tiến công dục dã soi đường chỉ lối cho mọi người Việt Nam đứng dậy cứu nước.
Ở Mục III: Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947; Qua thơ ca giúp học sinh xác định được các địa danh trong chiến dịch:“Anh kể chuyện tôi ngheTrận chợ Đồn chợ Rã; Ta đánh giặc chạy re, Hai đứa cười ha ha”
Ở Mục IV: Chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 Bác Hồ của chúng ta đã trực tiếp ra trận để chỉ đạo chiến dịch. Khi dạy mục này giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh bài thơ : 
 “Đêm nay Bác không ngũ”
 “Anh đội viên thức dậy
 Thấy trời khuya lắm rồi
 Mà sao Bác vẫn ngồi
 Đêm nay Bác không ngủ......”
Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953-1954). Giáo viên có thể sử dụng các tác phẩm văn học viết về Điện Biên Phủ trong thời kì này vào bài giảng như bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” (Tố Hữu).
Mục 2: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) giáo viên giảng thêm:
“Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơmvắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng, chí không sờn...”
Hoặc: “Kháng chiến ba ngàn ngày
 Không đêm nào vui bằng đêm nay
 Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
 Trên đất nước, như huân chương trên ngực
 Dân tộc ta dân tộc anh hùng”
Hay: “Chín năm làm một Điện Biên
 Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng...”
 (Trích: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” Tố Hữu)
Qua các bài thơ này giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ (56 ngày đêm), chín năm kháng chiến chống Pháp (từ 1946 đến 1954) và làm cho học sinh hiểu rõ sự hi sinh, gian khổ và đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Niềm tự hào dân tộc, thôi thúc các em ra sức học tập và rèn luyện nêm người...Qua khổ thơ học sinh thấy được sự đồng lòng đồng sức của nhân dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ:
“Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát”
Hoặc: “Súng nổ rung trời giận dữ
 Người lên như nước vỡ bờ
 Nước Việt Nam từ máu lửa
 Rủ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi)
Ở Mục III: Hiệp Định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Khi dạy về nội dung hiệp định, giáo viên có thể đưa vào những đoạn thơ như:
“Sông Bến Hải bên bồi bên lỡ
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
Cách chia mười mấy năm trường
Khi mô mới nối được đường vô ra”
Một giới tuyến quân sự tạm thời, nhưng đế quốc Mĩ đã âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài Nam-Bắc ngăn cách nước:
“Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hoá hướng dương” (Lê Anh Xuân)
Bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống Đế Quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954-1965). Khi dạy về phong trào Đồng Khởi với chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo luật 10/59 của Mĩ -Diệm, giáo viên cho học sinh thấy được tộ ác của Mĩ - Ngụy qua đoạn thơ:
“Có những ông già chúng khảo tra
Chẳng khai nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra” (Tố Hữu)
Khi nói đến Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 –1965) giáo viên trích dẫn: “Hỡi Miền Bắc đó nặng đôi vai
 Gánh cả non sông vượt dặm dài
 Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước
 Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Hoặc: “Từ ngàyanh đi ruộng đồng em đảm đang
 Ruộng chẳng chăng dây cây lúa thẳng hàng
 Đào đắp đê khơi nước vào làng”
Qua các khổ thơ trên học sinh thấy được sự quyết tâm thi đua giữa hậu phương và tiền tuyến cùng đồng lòng chung sức lập công và tin tưởng ngày chiến thắng.
Bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965-1973). Khi dạy trận Điện Biên Phủ trên không của quân dân miền Bắc (chiến tranh phá hoại lần 2 của Mĩ với 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng...) giáo viên miêu tả:
“Chúng muốn biến ta thành tro bụi
Ta hoá vàng nhân phẩm lương tâm
Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơmngat giữa đầm....
Cả bốn biển hoan hô Hà Nội
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ” (Tố Hữu) 
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Tôi đã sử dụng kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đạt được kết quả khả quan, khi sử dụng một số câu thơ, câu văn, câu trích dẫn... minh họa cho một sự kiện lịch sử, bài học lịch sử làm giờ học sinh động hơn, hấp dẫn học sinh hơn, giờ học đạt hiệu quả cao. Trong dạy học dùng thơ văn cho học sinh có vai trò tích cực, chủ động trong việc học tập, qua đó các em chủ động tìm những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện lịch sử, đồng thời học sinh còn ôn tập, củng cố, tổng hợp kiến thức ở mức độ cao hơn. Qua khảo sát chất lượng giờ học và học tập bộ môn cho 3 lớp 12A4, 12A5; 12A6 (chưa vận dụng dạy học tíc hợp nội dung văn học trong dạy học lịch sử ) so với 3 lớp 12A1, 12A2; 12A3 (vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học lịch sử ) Học kì I năm học 2015 – 2016 tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Chất lượng giờ học
Tiêu chí đánh giá
 12A4, 12A5; 12A6
12A1, 12A2; 12A3
Không khí giờ học
Trầm, căng thẳng
Sôi nổi, tích cực, nhẹ nhàng
 Khả năng tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh
Chưa tích cực
Rất tích cực
Học sinh hiểu và nắm vững nội dung trọng tâm của bài và kiến thức liên quan
35%
70%
Điểm khá giỏi
15,52%
46,25%
 Bảng 2: Bảng so sánh chất lượng
 So sánh kết quả học tập Học kì I năm học 2015 – 2016 của 3 lớp 12A5, 12A4; 12A6 (Chưa vận dạy học tích hợp dụng nội dung văn học trong dạy học lịch sử ) so với 3 lớp 12A3, 12A1; 12A2 (Vận dụng dạy học tích hợp nội dung văn học trong dạy học lịch sử) đã thu được kết quả:
Trường THPT TĨNH GIA 5
Lớp
Sĩ số
HS
Kết quả môn Lịch sử Học kì I
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
12A1
34 HS
2 HS
25 HS
7 HS
0 HS
0HS
11A2
35 HS
6 HS
22 HS
4 HS
0 HS
0 HS
12A3
35 HS
2 HS
18 HS
15HS
0 HS
0 HS
12A4
38 HS
0 HS
14 HS
20 HS
4 HS
0 HS
12A5
37 HS
0 HS
7 HS
25 HS
5 HS
0 HS
12A6
39 HS
0 HS
6 HS
22 HS
11 HS
0 HS
Nội dung văn học được vận dụng trong các tiết dạy lịch sử sẽ đạt được kết quả cao nhất của học sinh về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, giúp học sinh hứng thú học tập, lĩnh hội kiến thức nhanh và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế. Giáo viên không chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh có cơ hội tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức mà còn phải biết vận dụng vốn kiến thức đã biết để hiểu kiến thức mới, có như vậy mới phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh trong học tập.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Nội dung văn học được vận dụng để tích hợp trong các tiết dạy sẽ đạt được kết quả cao nhất của học sinh về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, giúp học sinh hứng thú học tập, lĩnh hội kiến thức nhanh và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế. Giáo viên không chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh có cơ hội tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức mà còn phải biết vận dụng vốn kiến thức đã biết để hiểu kiến thức mới, có như vậy mới phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh trong học tậpvà rèn luyện đạo đức.
Nội dung văn học được vận dụng trong các tiết dạy góp phần tạo cho học sinh nắm đượctruyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất. Là cơ sở hình thành nhân cách, lối sống và tự hào về truyền thống dân tộc đây là nền tảng giúp học sinh hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn lịch sử, là cơ sở phương pháp luận để học sinh chủ động nắm bắt thông tin cũng như, sưu tầm thơ ca nhằm tiếp cận các sự kiện lịch sử chính xác khoa học, làm cho tiết học sôi nổi và đạt kết quả cao, khắc sâu vào tâm trí học sinhtrong quá trình nhận thức cũng như trong giờ học lịch sử. Mặt khác, học sinh nhận thức được vai trò của bộ môn, nhiều em đã thay đổi suy nghĩ coi lịch sử là môn phụ và đầu tư nhiều thời gian hơn cho bộ môn, các em không những tìm hiểu lịch sử giới hạn trong sách giáo khoa mà còn khai thác kiến thức lịch sử thông qua báo chí, ti vi và các phương tiện thông tin truyền thông khác. Trách nhiệm và nghĩa vụ cơ bản của trường học là làm cho các em không quên lịch sử và không để cho các em thờ ơ với bộ môn lịch sử.
Dạy học nói chung và dạy học môn lịch sử nói riêng là một hoạt động đặc thù giữa thầy và trò. Muốn nâng cao chất lượng bộ môn, đòi hỏi sự nỗ lực của cả thầy và trò không phải trong ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài, trong dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên phải biết sử dụng linh hoạt và kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau, biết kích thích sự tìm tòi và giúp các em chiếm lĩnh được tri thức. Để đổi mới phương pháp dạy học: lấy học sinh làm trung tâm, không có nghĩa là chúng ta phó mặc cho các em tự chiếm lĩnh tri thức. Ngược lại, giáo viên đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp, đề tài này cũng chỉ dừng lại ở việc vận dụng, khai thác các yếu tố văn học, nhằm bổ trợ cho quá trình dạy học lịch sử phù hợp, thích ứng theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng trường; cốt lõi và chuẩn kiến thức bài dạy phải đảm bảo yêu cầu. 
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi, phần lớn dựa vào tình hình học tập của học sinh trường THPT Tĩnh Gia 5 nên khả năng áp dụng thực tiễn có thể còn hạn chế nhất định. Kính mong quí thầy cô đóng góp ý kiến thêm. Tôi chân thành cảm ơn!
II. Kiến nghị 
* Đối với cấp trường.
Thường xuyên tổ chức báo cáo các chuyên đề Lịch sử để rút kinh nghiệm, cần đầu tư trang bị, xây dựng phòng học bộ môn để phục vụ cho công tác dạy học
Bổ sung tranh ảnh về các di tích lịch sử và di sản văn hóa, các chân dung nhân vật lịch sử. Cung cấp nhiều tư liệu để giảng dạy tốt phần lịch sử địa phương-Tổ chức những buổi học ngoại khóa, tham quan các di tích, bảo tàng lịch sử
* Đối với Sở Giáo dục
Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn trao đổi kinh nghiệm cho giáo viên để giáo viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình dạy học.
Cho lưu hành các sáng kiến kinh nghiệm đạt giải trong các cuộc thi viết sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên học hỏi, vận dụng vào dạy học.
Xác nhận củ thủ trưởng đơn vị Thanh hóa, ngày 25 tháng 05 năm 2016
 Tôi xin cam đoan đây là SKKN 
 của mình viết, không sao chép nội dung 
 của người khác
 Dương Thị Tâm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử lớp 12 – NXB GD
 2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử lớp 11 – NXB GD
 3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử lớp 10 – NXB GD
4. Kiểm tra – Đánh giá thường xuyên và định kì môn Lịch sử 12 – NXB GD.
5. Kiểm tra – Đánh giá thường xuyên và định kỳ môn Lịch sử 11- NXBGD
6. Kiểm tra – Đánh giá thường xuyên và định kì môn Lịch sử 10 – NXB GD.
7. Kiểm tra - Đánh giá kết quả học tập Lịch sử lớp 11 – NXB GD.
8. Các triều đại Việt Nam – NXB Thanh niên
9. Những mẫu chuyện lịch sử Việt Nam – NXB quân đội nhân dân

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_van_dung_day_hoc_tich_hop_noi_dung_van.doc