Sáng kiến kinh nghiệm Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học Lịch sử ở Trường THPT Sáng Sơn
1.1. Lý do chọn đề tài
Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng là vấn đề đặt ra vô cùng cấp thiết hiện nay.
Trong những năm gần đây, sự yếu kém của chất lượng giáo dục cũng biểu hiện khá rõ trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Biểu hiện cụ thể được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng, thể hiện qua kết quả của các kì thi tốt nghiệp,… nổi bật là tình trạnh coi thường, nhớ nhầm sự kiện, không hiểu lịch sử, không vận dụng bài học, kinh nghiệm quá khứ vào rèn luyện phẩm chất, đạo đức, quan điểm tư tưởng. Nguyên nhân của tình trạnh này có nhiều như: quan niệm không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ môn lịch sử trong đào tạo thế hệ trẻ; tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đến giáo dục,…Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng khác là sự bảo thủ, lạc hậu về phương pháp dạy học. Cho đến nay, sự chuyển biến về phương pháp dạy học lịch sử chưa được là bao; phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn, cách học thụ động, nói chung chủ yếu vẫn là cách “Thầy đọc – trò viết”. Nếu cứ tiếp tục cách dạy học thụ động như thế, chất lượng của bộ môn lịch sử sẽ không đáp ứng được yêu cầu đổi mới xã hội. Do đó, việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay là một yêu cầu cấp bách. Một trong những biện pháp rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử là việc xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học Lịch sử ở Trường THPT Sáng Sơn
quyền cho Varen tuyên bố tha bổng Phan Bội Châu, nhưng chúng đưa ông về giam lỏng tại Huế cho đến khi ông qua đời (29-10-1940). Có thể nói, trước khi xuất hiện Nguyễn Ái Quốc trên vũ đài chính trị Việt Nam thì Phan Bội Châu là lãnh tụ tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Cuộc đời hoạt động của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu là tấm gương sáng, không riêng người đương thời cảm kích, mà những thế hệ hiện nay cũng đều trân trọng. Thông qua việc giới thiệu tài liệu như trên, giáo viên đã khắc sâu cho học sinh hình ảnh Phan Bội Châu, qua đó giáo dục cho các em lòng khâm phục, kính yêu với nhà yêu nước lớn này. Ví dụ 2. Khi dạy bài 18. “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950)” (chương trình lịch sử 12 cơ bản), khi dạy về diễn biến chiến dịch Biên Giới, để khắc hoạ và giáo dục cho học sinh về tinh thần dũng cảm trong chiến đấu, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, giáo viên sử dụng tài liệu về Trần Cừ kết hợp với trình bày diễn biến trận Đông Khê như sau: Mũi nhọn của của trần Cừ chỉ huy tiến lên mở hàng rào, nhưng bị đại bác của địch chặn đứng mọi đợt xung phong. Bốn chiến sĩ xông lên đều bị thương vong, cả mũi nhọn nằm ùn lại trước mũi súng của kẻ thù. Súng vừa ngớt thì một toán địch từ hầm ngầm xông ra phản kích. Trần Cừ bị trúng đạn vào ngực, trong khi lô cốt địch vẫn không ngớt nhả đạn. Trời đã sáng rõ, xung kích vẫn chưa lọt vào được, mọi người đều lo lắng. Lúc này, Trần Cừ cố lê người sát lô cốt, anh lại bị thương lần nữa, xong vẫn cố nhoai người lên rồi gục xuống và lấy hết sức dùng thân mình bịt lỗ châu mai địch. Hoả lực của địch dừng lại và xung kích liên tiếp xông lên. Lời hô “Noi gương Trần Cừ, trả thù cho Trần Cừ” vang lên, các chiến sĩ như nước vỡ bờ, các tổ 3 người tràn vào, nhanh chóng tiêu diệt lô cốt. Giáo viên trình bày tài liệu trên sẽ gây được sự chú ý, xúc động lớn trong học sinh, qua đó khắc sâu trong các em hình ảnh người anh hùng Trần Cừ, và hoàn thành được mục tiêu giao dục đã đề ra. Thông qua việc áp dụng trên đây cho thấy, sử dụng bài viết sách giáo khoa kết hợp với tài liệu tham khảo là một biện pháp quan trọng để giáo viên truyền thụ tốt kiến thức cơ bản cho học sinh trong dạy học lịch sử. Giáo viên áp dụng biện pháp này sẽ làm cho bài học sinh động hơn, hơn nữa làm cho bài học theo kịp tính hiện đại của kiến thức lịch sử. Biện pháp này phải được giáo viên lựa chọn bài thích hợp để áp dụng, những bài học mở đầu hay kết thúc một thời kì lịch sử, đóng vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử, hoặc những bài mang tính khái quát,... thường được áp dung biện pháp này. PHẦN 2: KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Đánh giá về thành công khi áp dụng SKKN Qua việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm trong năm học, tôi đã thu được những thành công sau: + Xác định được nhiệm vụ, chức năng của giáo viên lịch sử là cung cấp cho học sinh những sự kiện lịch sử, các quan điểm lịch sử cơ bản, phương pháp học tập lịch sử để phát huy tính tích cực, năng lực tự học thông minh, sáng tạo, rèn luyện quan điểm tư tưởng, giáo dục đạo đức phẩm chất và phát triển năng lực tư duy, hành động của học sinh. + Giáo viên vận dụng được nhiều phương pháp dạy học, giúp học sinh học đi đôi với hành, vận dụng hợp lý giữa lý thuyết với thực tế. + Học sinh phát huy được tính tích cực, sáng tạo, hứng thú học tập; nắm chắc kiến thức bài học, chủ động hơn trong việc tự học, tự nghiên cứu. + Các em có thói quen cẩn thận, sáng tạo trong học tập, biết ứng dụng để làm các dạng bài tương tự. + Xác lập mối quan hệ qua lại giữa việc giảng dạy của giáo viên với học tập của học sinh, phát triển sự nhận thức tích cực, độc lập của học sinh. 2. Đánh giá về hạn chế khi áp dụng SKKN - Một số em biết nhưng chưa hiểu được sự kiện lịch sử, chưa thực sự đầu tư thời gian cho học lịch sử nên sự tiến bộ chưa rõ rệt. - Có em hiểu nội dung vấn đề nhưng diễn đạt còn lúng túng. 8. Những thông tin cần được bảo mật: Không. 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 9.1. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản là chìa khoá quan trọng hàng đầu mở ra hưởng giải quyết đúng đắn mâu thuẫn lớn nhất trong dạy học nói chung, cũng như trong dạy học lịch sử nói riêng (mâu thuẫn giữa kiến thức khổng lồ, với thời gian, trình độ... có hạn trong dạy học). Trong dạy học lịch sử chỉ khi nào vấn đề này được giải quết trước tiên, thoả đáng, thì khi đó mục tiêu dạy học mới đảm bảo, hiệu quả bài học, chất lượng dạy học mới được nâng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội – đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động vừa “ hồng” vừa “ chuyên”. Trong phạm vi đề tài này, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu làm sáng tỏ một số vấn đề xung quanh việc xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản. Qua đây, tôi có cơ sở để rút ra kết luận bước đầu về truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử: trước hết là xác định kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử, sau đó là sắp xếp kiến thức cơ bản theo hệ thống và cấu trúc của bài giảng, tổ chức giờ học. Trên cơ sở đó , giáo viên vạch ra yêu cầu về phương pháp của việc truyền thụ kiến thức cơ bản, có sự kết hợp giữa phương pháp với phương tiện đa dạng để khắc sâu kiến thức cơ bản đã xác định cho học sinh và gây được hứng thú cho các em trong học tập lịch sử, nhằm từng bước nâng cao chất lượng bộ môn. Để thực hiện được thành công sáng kiến người giáo viên cần: + Có nghiệp vụ tay nghề vững vàng, kiên trì bền bỉ rèn luyện học sinh. + Nhiệt tình trong giảng dạy, hết lòng vì học sinh thân yêu. + Không ngừng học tập để nâng cao kiến thức, phương pháp bồi dưỡng của từng bài học, môn học. + Luôn xác định việc dạy đại trà với công tác bồi dưỡng HSG để góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của địa phương tiến kịp với đà phát triển chung của xã hội. 9. 2. Kiến nghị: Chuyên đề xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở Trường THPT Sáng Sơn, với những biện pháp xác định và truyền thu kiến thức cơ bản đã được đề xuất có tính khả thi cao trong thực tiễn giảng dạy nói chung và giảng dạy lịch sử nói riêng. Vì vậy, tôi thiết nghĩ đề tài này có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp giảng dạy môn lịch sử và các môn học khác. Với kết quả đạt được trong năm học vừa qua, bản thân tôi sẽ tiếp tục phát huy SKKN này. Rất mong nhận được sự góp ý của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng để SKKN đạt hiệu quả tốt hơn. 10. Đánh giá lợi ích thu được: 10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của Tôi như sau: Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm bản thân tôi cho rằng những phương pháp này giúp các em ngày một tiến bộ. - Thành công đề tài đã giúp nâng cao về chất lượng giáo dục của lớp, của trường. - Qua việc thực hiện đề tài, giáo viên đã giúp cho các em hứng thú và tích cực hơn trong mọi hoạt động học ở trên lớp, tích luỹ được kinh nghiệm học tập cho bản thân, nâng cao ý thức tự giác và tư duy trong học tập. - Chất lượng bài kiểm tra có tiến bộ rõ rệt. Như vậy, trong năm học 2018-2019 tôi đã bước đầu áp dụng các biện pháp xác định và tuyền thụ kiến thức cơ bản vào quá trình dạy học. Qua thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy áp dụng các biện pháp trên đã đem lại hiệu quả cao, góp phần to lớn vào việc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học trong dạy học lịch sử. Để kiểm nghiệm kết quả, tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm trong một bài học cụ thể. 10.2. Đánh giá lợi ích thu được qua thực nghiệm sư phạm: 10.2.1. Mục đích thực nghiệm Nhằm kiểm tra hiệu quả của những biện pháp xác định và tuyền thụ kiến thức cơ bản đã đề xuất, áp dụng. Trong đó, tôi chủ yếu kiểm tra hiệu quả các biện pháp truyền thụ kiến thức cơ bản với việc nâng cao hiệu quả bài học phát huy tính tích cực trong học lịch sử của học sinh. 10.2.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm Để thực nghiệm đạt hiệu quả chính xác, tôi đã chuẩn bị giáo án theo hai kiểu: + Giáo án kiểu I. Soạn dạy theo kiểu truyền thống, thầy đọc – trò ghi + Giáo án kiểu II. Soạn dạy theo những dự kiến về xác định và tuyền thụ kiến thức cơ bản đã nêu. Tôi chọn 2 lớp 12A7 và 12A8, trường THPT Sáng Sơn làm thực nghiệm (2 lớp có lực học tương đương). Lớp 12A7 là lớp thực nghiệm, áp dụng giáo án loại II. Lớp 12A8 là lớp đối chứng, áp dụng giáo án loại I. Bài học tiến hành là bài 20. “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc” (chương trình lịch sử 12 cơ bản). Để kiểm tra tính khả thi, sau khi dạy, tôi tiến hành kiểm tra kiến thức của học sinh ở cả hai lớp, với hình thức trắc nghiệm trong thời gian 15 phút. Câu hỏi như sau: Hãy chọn đáp án đúng: Câu 1. Pháp cử tướng NaVa sang Đông Dương vì A. sau 8 năm quay lại xâm lược Pháp bị thiệt hại nặng nề. B. chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) đã kết thúc. C. nhân dân Pháp phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam. D. bị Mĩ ép kéo dài và mở rộng chiến tranh. Câu 2. Nội dung nào sau đây là chủ trương của Đảng ta trong Đông-Xuân 1953-1954? A. trong vòng 18 tháng phải đánh bại Pháp. B. ta tránh giao chiến ở miền Bắc để chuẩn bị đàm phán. C. giành thắng lợi nhanh chóng về quân sự để kết thúc chiến tranh. D. tập trung lực lượng tiến công vào những hướng chiến lược quan trọng mà địch tương đối yếu. Câu 3. Khẩu hiệu do Đảng và chính phủ ta nêu ra trong chiến dịch Điện Biên Phủ là A. tốc chiến, tốc thắng để nhanh chóng kết thúc chiến dịch. B. tất cả cho tiền tuyến,tất cả để chiến thắng. C. tiêu diệt hết quân địch ở Điện Biên Phủ. D. biến Điện Biên Phủ thành mồ chôn giặc Pháp. Câu 4. Nguyên tắc quan trọng nhất của Việt Nam trong kí Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và Hiệp định Giơ-ne-vơ 21-7-1954 là. A. phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù. B. đảm bảo giành thắng lợi từng bước. C. giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. D. không vi phạm chủ quyền dân tộc. Câu 5. Điểm mạnh nhất của kế hoạch Nava trên chiến trường Đông Dương là A. tập trung quân cơ động nhất và phương tiện chiến tranh hiện đại. B. tập trung tối đa lực lượng chủ lực ở đồng bằng Bắc bộ. C. phân bố đều lực lượng ra khắp chiến trường chính. D. trang bị phương tiện vũ khí hiện đại. Câu 6. Đầu năm 1953, để cứu vãn tình thế ở Đông Dương, Pháp và Mĩ lập ra kế hoạch quân sự mang tên A. Rơ-ve. B. Na va. C. Xơ- lăng. D. Đơ -lat -đơ- tat-xi nhi. Câu 7. Chủ trương quân sự được BCH TW Đảng ta đề ra trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 là A. tăng cường chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch. B. thực hiện phương châm tích cưc,chủ động,linh hoạt. C. tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở nơi địch tập trung đông. D. tập trung tiêu diệt sinh lực địch ở những nơi địch tương đối yếu. Câu 8. Trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, những hướng tiến công chiến lược của ta làm phân tán lực lượng địch là A. Lai Châu,Trung Lào,Thượng Lào,Tây Nguyên. B. Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào. C. Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên, Thượng Lào. D. Tây Nguyên, Hòa Bình, Đồng bằng Bắc Bộ. Câu 9. Lí do Nava tập trung cố gắng xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương là A. cứu nguy cho kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản. B. chuẩn bị mở cuộc tấn công bộ đội chủ lực của ta. C. biến Điện Biên Phủ thành nơi tập trung quân chủ lực. D. biến Điện Biên Phủ thành căn cứ phòng thủ vững chắc. Câu 10. Phương châm ban đầu của TW Đảng ta khi quyết định chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược là gì? A. đánh du kích. B . đánh chắc, tiến chắc. C. đánh nhanh, thắng nhanh. D. kết hợp đánh công kiên với đánh du kích. Câu 11. Chiến thắng lịch sử nào đã diễn ra trong 56 ngày đêm từ 13/3/1954 đến 7/5/1954? A. Chiến dịch Quang Trung. B. Điện Biên Phủ trên không . C. Chiến dịch Điện Biên Phủ. D. Chiến dịch Thượng Lào. Câu 12. Hội nghị quốc tế nào đã chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương? A. Giơ-ne-vơ. B. Poxđam. C. Ianta. D. Pa-ri. 10.2.3. Kết quả, nhận xét Sau khi chấm bài, xử lí số liệu thu được kết quả như sau: Lớp Sĩ số Điểm yếu Điểm TB Điểm khá Điểm giỏi Số bài Tỉ lệ % Số bài Tỉ lệ % Số bài Tỉ lệ % Số bài Tỉ lệ % 12A7 32 0 0 9 28 16 50 7 22 12A8 32 5 15.625 15 46.875 10 31.25 2 6.25 Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu ta thấy kết quả đạt được ở lớp thực nghiệm cao hơn, do việc vận dụng phương pháp xác định đúng và truyền thụ tốt kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử. Số lượng học sinh trả lời đúng, đạt loại giỏi, khá nhiều hơn lớp đối chứng. Ở lớp thực nghiệm 12A7, các em phát huy được khả năng nắm vững kiến thức cơ bản, hiếu sâu bản chất và có sự liên hệ giữa các sự kiện trong bài nên tỉ lệ câu trả lời đúng nhiều hơn lớp 12A8 đối chứng. Cụ thể: + Loại giỏi: hơn lớp đối chứng 5 bài + Loại khá : hơn lớp đối chứng 6 bài + Loại TB: lớp đối chứng nhiều hơn 6 bài + Loại yếu: lớp thực nghiệm không có, lớp đối chứng có 5 bài Như vậy, qua kết quả trên chứng tỏ những biện pháp xác định và tuyền thụ kiến thức cơ bản đã đề xuất, áp dụng trên đây là hoàn toàn có tính khả thi. Thực hiện tốt các biện pháp này, sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở Trường THPT Sáng Sơn nói riêng và các trường THPT nói chung. 11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: 11.1. Danh sách học sinh tham gia lớp học được nghiên cứu: STT Họ và tên Lớp STT Họ và tên Lớp 1 Trần Phương Anh 12A7 1 Bùi Thị Kim Anh 12A8 2 Nguyễn Thành Đô 12A7 2 Phạm Tuấn Anh 12A8 3 Trần Thị Hương Giang 12A7 3 Phan Đức Anh 12A8 4 Nguyễn Bá Hậu 12A7 4 Triệu Thị Phương Anh 12A8 5 Lê Quang Hiếu 12A7 5 Nguyễn Linh Chi 12A8 6 Nguyễn Thu Hoài 12A7 6 Nguyễn Thị Hương Giang 12A8 7 Lộc Thị Huệ 12A7 7 Hà Thị Hậu 12A8 8 Bùi Mạnh Hùng 12A7 8 Lê Minh Hiếu 12A8 9 Hoàng Trần Quang Huy 12A7 9 Nguyễn Đức Hiệu 12A8 10 Trần Thanh Huyền 12A7 10 Nguyễn Văn Hòa 12A8 11 Lưu Thị Thúy Hường 12A7 11 Trần Thị Thu Huyền 12A8 12 Triệu Ngọc Khánh 12A7 12 Dương Thị Mai Hương 12A8 13 Lê Thị Thanh Lương 12A7 13 Hoàng Ngọc Khanh 12A8 14 Hoàng Văn Mạnh 12A7 14 Trần Thị Nhật Lệ 12A8 15 Hoàng Ngọc Nam 12A7 15 Đào Thùy Linh 12A8 16 Bùi Thị Thanh Ngân 12A7 16 Hà Quang Linh 12A8 17 Đào Ánh Nguyệt 12A7 17 Nguyễn Văn Linh 12A8 18 Đỗ Hoài Phương 12A7 18 Trần Đức Lương 12A8 19 Lưu Thị Thu Phương 12A7 19 Lê Đức Mạnh 12A8 20 Nguyễn Hồng Quân 12A7 20 Lê Thị Mến 12A8 21 Dương Tiến Quý 12A7 21 Nguyễn Thanh Năng 12A8 22 Hà Trọng Sơn 12A7 22 Nguyễn Thị Hoài Ngọc 12A8 23 Lưu Văn Thủy 12A7 23 Trần Thị Phương Nhung 12A8 24 Bùi Văn Tĩnh 12A7 24 Nguyễn Thành Phúc 12A8 25 Lê Quang Toàn 12A7 25 Phùng Anh Phúc 12A8 26 Nguyễn Văn Trường 12A7 26 Lê Văn Thắng 12A8 27 Nguyễn Công Tuần 12A7 27 Nguyễn Đức Toàn 12A8 28 Trần Thị Vân 12A7 28 Ngô Thị Trang 12A8 29 Trần Thị Vân 12A7 29 Trần Minh Trang 12A8 30 Lưu Tuấn Vũ 12A7 30 Bùi Anh Trường 12A8 31 Vũ Doãn Vương 12A7 31 Nguyễn Thị Yên 12A8 32 Đỗ Văn Sơn 12A7 32 Lộc Thị Ngọc Hoa 12A8 11.2. Danh sách giáo viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu Số TT Tên tổ chức/cá nhân Địa chỉ Phạm vi/Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 1 Phạm Thị Tuyết Nhung Trường THPT Sáng Sơn - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc Giáo dục và Đào Tạo Sông Lô, ngày tháng 1 năm 2019 Thủ trưởng đơn vị Vĩnh Phúc, ngày 28 tháng 1 năm 2019 Tác giả sáng kiến PHẠM THỊ TUYẾT NHUNG
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_xac_dinh_va_truyen_thu_kien_thuc_co_ba.doc
don_de_nghi_sang_kien_kinh_nghiem_xac_dinh.doc
phieu_dang_ki_sang_kien_kinh_nghiem_xac_dinh_va_truyen_thu.doc

