Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng công thức lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975) trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Suốt chiều dài lịch sử hơn 4000 năm qua, dân tộc ta đã phải đương đầu với nhiều kẻ thù xâm lược hung bạo. Trong đó, cuộc chiến tranh xâm lược “thực dân kiểu mới” của đế quốc Mĩ là cuộc chiến tranh với lực lượng, vũ khí, phương tiện hiện đại nhất kéo dài hơn hai thập niên (1954 – 1975), dài hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử dân tộc.
Qua năm đời Tổng thống Mĩ nối tiếp nhau, điều hành kế hoạch chiến tranh xâm lược qua bốn chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới:
- Chiến lược “Chiến tranh đơn phương” (1954 – 1960);
- Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965);
- Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968);
- Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1973.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng công thức lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975) trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT
iểu mới, được tiến hành bằng quân độc quyền tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố văn” Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. + Âm mưu: “Dùng người Việt đánh người Việt” + Thủ đoạn: Thực hiện “bình định” miền Nam bằng các cuộc hành quân dồn dân “lập ấp chiến lược” qua hai kế hoạch: Kế hoạch Staley-Taylor (bình định miền Nam trong vòng 18 tháng), kế hoạch Giôn - Xơn - Mác namara (bình định miền Nam trong vòng 2 năm). - Dựa vào công thức chiến lược “Chiến tranh đơn phương” đã xây dựng, giáo viên cho học sinh thực hành viết chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” dưới dạng công thức: 2 “Chiến tranh đặc biệt” – Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = quân đội tay sai + cố vẫn Mĩ + Trang bị Mĩ → Lực lượng cách mạng + nhân dân ta * Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968)(5) (Thực hiện bài học bài 22, tiết 39) + Hoàn cảnh” Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. + Thời gian: 1965 - 1968. + Nội dung chiến lược: “Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân một số nước Đồng minh Mĩ có sự hỗ trợ của quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ, trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. + Âm mưu: Ỷ vào sức mạnh của hoả lực, giành lại thế chủ động trên chiến trường đẩy ta vào thế phòng ngự phân tán và làm cho chiến tranh tàn lụi dần. + Thủ đoạn: Kết hợp giữ “tìm diệt” cộng sản và “bình định” miền Nam. Học sinh thực hành viết công thức của chiến lược: 3 “Chiến tranh cục bộ” - Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = Quân đội Mĩ + Quân đồng minh Mĩ + Quân đội Sài Gòn + Cố vấn Mĩ + Trang bị Mĩ → Chống lại lực lượng cách mạng + nhân dân ta * Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1973)(6): Tương tự như các chiến lược đã được học, giáo viên để học sinh thực hành. Điền các thông tin cho các nội dung: + Hoàn cảnh ra đời: Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Mĩ vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam bằng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, mở rộng chiến tranh ra toàn bộ Đông Dương bằng chiến lược “Đông dương hoá chiến tranh” + Thời gian: 1969 - 1973. + Nội dung: “Việt Nam hoá chiến tranh” được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, với sự phối hợp về hoả lực, không quân, hậu cần Mĩ, do hệ thống cố vấn Mĩ chỉ huy. + Âm mưu: Dùng người Việt đánh người Việt. + Thủ đoạn: Rút dần quân Mĩ và quân Đồng minh về nước, tăng cường quân đội Sài Gòn nhằm giảm xương máu người Mĩ trên chiến trường và tận dụng triệt để xương máu người Việt Nam. Tăng viện trợ về kinh tế, quân sự, chính trị cho chính quyền Sài Gòn để tự đứng vững, tự gánh vác lấy chiến tranh, mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc và lợi dụng cả thủ đoạn ngoại giao nhằm cô lập cuộc kháng chiến của ta. - Học sinh tự xây dựng “công thức” cho “Việt Nam hoá chiến tranh” và hình thành khái niệm chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”: 4 “Việt Nam hóa chiến tranh” – Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = Quân đội Sài Gòn + Cố vấn Mĩ + Hỏa lực, không quân, hậu cần Mĩ. Trên cơ sở khái niệm “Việt Nam hoá chiến tranh” học sinh sẽ tự hình thành khái niệm Đông dương hoá chiến tranh: Mĩ tiếp tục sử dụng quân đội Sài Gòn là lực lượng xung kích trong cuộc chiến tranh mở rộng xâm lược Campuchia, tăng cường chiến tranh xâm lược Lào và hiểu được thực chất của chiến lược “Đông dương hoá chiến tranh” là Mĩ dùng người Đông dương đánh người Đông dương. Trên đây là bốn khái niệm chiến lược chiến tranh đã được viết ngắn gọn dưới dạng “công thức hóa”: (1), (2), (3). (4). b. Tập đọc các “công thức” thành khái niệm hoàn chỉnh: Sau khi hướng dẫn cho học sinh xây dựng các “công thức” lịch sử cho các khái niệm chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ, công việc quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn cho các em biết tìm các ngôn từ thích hợp, chính xác, sinh động cho ác kí hiệu trong các “công thức”, để đọc hoàn chỉnh khái niệm. - Các kí hiệu được dùng nhiều lần trong bốn công thức là (-), (=), gạch chân dưới cụm từ, (+), (→), mỗi một kí hiệu sẽ tương ứng với ngôn ngữ nói – viết phù hợp với bộ môn lịch sử và cũng phù hợp với các khái niệm của các chiến lược. - Chúng ta sẽ đọc các kí hiệu đó như sau: + Kí hiệu (-): là hình thức + Kí hiệu (=): được tiến hành bằng + Gạch chân dưới các cụm từ thể hiện lực lượng đó là: “lực lượng chủ yếu” tiến hành chiến tranh. + Dấu (+): là kí hiệu được dùng nhiều nhất đọc là “phối hợp”, riêng dấu (+) đứng trước từ “cố vấn Mĩ” đọc là “dưới sự chỉ huy” (vì cố vấn quân sự Mĩ không trực tiếp chiến đấu mà là lực lượng dùng để chỉ huy các lực lượng chiến đấu). + Kí hiệu (→) đọc là: “nhằm”. - Lưu ý cho các em khi quan sát các công thức, công thức của chiến lược nào có sử dụng nhiều dấu (+) thì chiến lược đó sẽ có sự kết hợp của nhiều lực lượng tham chiến, tăng cường “viện trợ” của Mĩ cũng như âm mưu và thủ đoạn của chiến tranh sẽ thâm độc và nham hiểm hơn, chiến tranh sẽ tăng cường, đẩy mạnh, mở rộng về quy mô hơn. Ví dụ: Đọc hoàn chỉnh công thức (3): Chiến tranh cục bộ là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng lực lượng quân Viễn chinh Mĩ phối hợp với quân đồng minh Mĩ và quân đội Sài Gòn, trong đó quân viễn chinh Mĩ là lực lượng chủ yếu tiến hành chiến tranh. Hoặc đọc hoàn chỉnh công thức (4): “Việt Nam hóa chiến tranh” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần Mĩ, trong đó quân đội Sài Gòn là lực lượng chủ yếu. c. Phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc: (Thực hiện dạy học ở bài 27, tiết 50 và bài ôn tập - bài tập, tiết 51). Trong quá trình ôn tập giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, giáo viên tổng hợp cả bốn “công thức” của các chiến lược chiến tranh đế quốc Mĩ đã tiến hành (1954 - 1975) ở miền Nam Việt Nam cho học sinh quan sát: 1 “Chiến tranh đơn phương” – hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm + Viện trợ của Mĩ → Lực lượng cách mạng + Nhân dân ta 2 “Chiến tranh đặc biệt” – Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = quân đội tay sai + cố vẫn Mĩ + Trang bị Mĩ → Lực lượng cách mạng + nhân dân ta 3 “Chiến tranh cục bộ” - Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = Quân đội Mĩ + Quân đồng minh Mĩ + Quân đội Sài Gòn + Cố vấn Mĩ + Trang bị Mĩ → Chống lại lực lượng cách mạng + nhân dân ta 4 “Việt Nam hóa chiến tranh” – Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới = Quân đội Sài Gòn + Cố vấn Mĩ + Hỏa lực, không quân, hậu cần Mĩ. * Học sinh làm các bài tập: - So sánh các chiến lược chiến tranh? Chiến lược Nội dung Chiến tranh đơn phương Chiến tranh đặc biệt Chiến tranh cục bộ Việt Nam hóa chiến tranh Thời gian 1954 – 1960 1961 – 1965 1965 – 1968 1969 – 1973 Hình thức Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới Chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới Lực lượng tiến hành Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Quân đội tay sai Quân Mĩ, quân Đồng minh Mĩ, quân đội Sài Gòn Quân đội Sài Gòn Lực lượng chủ yếu Chính quyền tay sai Quân đội tay sai Lực lượng quân Mĩ Quân đội Sài Gòn Trang bị Mĩ Mĩ Mĩ Mĩ Mục đích Chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta. + Quan sát sơ đồ trên, các em sẽ dễ dàng xác định được những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa các chiến lược: + Thất bại của chiến lược trước, thực hiện chiến lược sau thì Mĩ lại thay đổi lực lượng tiến hành chiến tranh, ngoài ra tăng cường hơn về trang bị cả về quân sự, kinh tế, chính trị làm cho mức độ chiến tranh ngày càng tăng tiến. - So sánh tương quan lực lượng giữa ta - địch: + Từ năm 1954 - 1975, Mĩ tiến hành chiến tranh với lực lượng mạnh, số quân đông và huy động tối đa về số lượng (cả quân đội Sài Gòn, quân Mĩ, quân các nước Đồng minh Mĩ). Chiến tranh được trang bị với vũ khí, phương tiện hiện đại, ngoài ra có những thời kỳ Mĩ mở rộng, đẩy mạnh chiến tranh còn có sự phối hợp của hoả lực, không quân và hậu cần Mĩ. + Sau khi kí Hiệp định Pari (27/01/1973), Mĩ chấp nhận phải rút quân về nước thì tương quan lực lượng mới bắt đầu thay đổi có lợi cho cách mạng. - Các em đánh giá được tinh thần của nhân dân ta, sự chiến đấu dũng cảm với ý chí không gì lay chuyển nổi, chúng ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ. Từ đó các em có quyền tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước của cha ông ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. - Học sinh có thể vận dụng các khái niệm này để nhận xét, đánh giá, nhận định về các hình thức chiến tranh mà các nước đế quốc đã tiến hành trên phạm vi toàn thế giới, xây dựng phép tư duy biện chứng, hình thành tư tưởng yêu nước, yêu hòa bình, lòng căm thù chiến tranh của các em. 2.4. Kiểm nghiệm Trong quá trình thực hiện thí điểm đề tài, cùng với sự kết hợp các phương pháp dạy học, áp dụng các phương tiện hiện đại dạy học lịch sử ở các lớp 12 đã có sự thay đổi rõ rệt, chất lượng bộ môn cũng như hứng thú học bộ môn cũng không ngừng nâng cao. - 100% học sinh tham gia học tập đều làm việc tích cực, hăng hái tìm tòi, chủ động lĩnh hội kiến thức. - Việc đọc hiểu công thức cho thấy các em hình thành các khái niệm lịch sử, biểu tượng lịch sử một cách chính xác, chân thực và sinh động. Hầu hết các em đã vận dụng được khái niệm vào thực tiễn, đặc biệt khi trả lời các câu hỏi bài tập trắc nghiệm ở các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao rất chính xác. - Kì thi THPT quốc gia đối với học sinh lớp 12 năm học này, thực hiện thi theo lựa chọn các tổ hợp môn: Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội. Qua kết quả đăng kí vừa qua ở trường tôi thì số học sinh đăng kí lựa chọn thi tổ hợp môn Khoa học xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn. - Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy: Mức độ nhận thức Lớp chưa thực hiện đề tài (Lớp 12A3 – Năm học 2014 – 2015) (% số học sinh nắm vững) Lớp thực hiện đề tài (12C, Năm học 2016 – 2017) (% số học sinh nắm vững) Đọc – hiểu các “công thức” 82% 98% Hình thành các khái niệm chiến lược chiến tranh 78% 97% Hệ thống hóa quá trình lịch sử. 76% 97% Vận dụng các công thức trong học tập các nội dung khác (thực tiễn) 76% 97% III. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 3.1. Kết luận Như vậy, xây dựng “công thức lịch sử” để hình thành khái niệm các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975) là một quá trình nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy lịch sử, ở một thời kì lịch sử dân tộc Việt Nam, cụ thể không kém phần quan trọng trong chương trình lịch sử lớp 12 THPT. Đây là một thời kì – một chương lịch sử mà khối lượng kiến thức lớn nhất và phức tạp nhất. Thời kì mà cách mạng Việt Nam phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau ở hai miền Nam – Bắc: Cách mạng XHCN (Miền Bắc), cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Miền Nam) được bắt đầu từ sau Hiệp định Giơ ne vơ (1954) và kết thúc bằng Đại thắng mùa xuân (1975). Vì vậy khi tiếp cận với nội dung học này, đại đa số các em đều ngán ngẩm, đều thấy khó hiểu, khó thuộc. Điểm nhấn của đề tài này là người thầy đã xây dựng một phương pháp giảng dạy thích hợp, và đã “truyền lửa” sáng tạo cho các em qua bộ môn lịch sử. Do đó, quá trình thực tiễn thực hiện đề tài là quá trình hướng dẫn cho học sinh một phương pháp học cụ thể, phù hợp với một nội dung lịch sử cụ thể. Qua thực hiện đề tài đã góp phần kích thích hứng thú học tập, lĩnh hội kiến thức đối với một nội dung lịch sử phức tạp, góp phần phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của các em. Đó chính là lời giải đáp cho câu hỏi “dạy học như thế nào để trong một thời gian ngắn nhất đạt hiệu quả cao nhất”, là góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng được yêu cầu của Giáo dục – Đào tạo hiện nay. Trong khuôn khổ thời gian còn hạn chế, sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của bạn đọc. 3.2. Kiến nghị - Tôi cũng như những giáo viên dạy lịch sử khác rất mong các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền của ngành Giáo dục - Đào tạo tăng cường các biện pháp, quan tâm hơn nữa đến bộ môn lịch sử, nâng cao tâm quan trong của bộ môn để thu hút sự tập trung và nâng cao ý thức học tập lịch sử của học sinh. Đối với các kỳ thi quan trọng, đề thi cần phải bám sát chương trình sách giáo khoa, các câu hỏi phải tập trung vào những nội dung chủ yếu của chương trình. Tổ chức nhiều cuộc hội thảo về nội dung và phương pháp dạy học, giao lưu giữa các địa bàn trong cả nước để có những thống nhất chung về quan điểm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới biện pháp thi cử. - Sở Giáo dục - Đào tạo và Nhà trường cần xây dựng quỹ tham quan học tập theo mô hình xã hội hoá giáo dục đối với bộ môn, để học sinh được tiếp cận với những “tài liệu vật thật” của lịch sử chứ không phải lúc nào cũng chỉ đối mặt với những “con chữ và số liệu khổng lồ” không thể nhớ nổi mới tạo được hứng thú học tập lịch sử của các em. - Giáo viên dạy học bộ môn cần phải phát huy hơn nữa về đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng dẫn phương pháp học phù hợp cho các em đối với từng nội dung cụ thể để đáp ứng được yêu cầu của đổi mới hình thức thi THPT quốc gia hiện nay. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp và các em học sinh đã giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu đề tài này! Thanh Hóa, ngày 07 tháng 4 năm 2017 Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người thực hiện Lê Thị Ngọc Hà TÀI LIỆU THAM KHẢO Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực-trang 17(Nhà xuất bản Giáo dục) Phương pháp dạy học Lịch sử-trang 6 (Nhà xuất bản ĐHSP Hà nội) (3) SGK Lịch sử 12 –trang 163(Nhà xuất bản Giáo dục) (4) SGK Lịch sử 12- trang 168-169 (Nhà xuất bản Giáo dục) (5) SGK Lịch sử 12- trang 173 (Nhà xuất bản Giáo dục) (6) SGK Lịch sử 12-trang 180 (Nhà xuất bản Giáo dục). DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN Họ và tên tác giả: Lê Thị Ngọc Hà Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên TT Tên đề tài SKKN Cấp đánh giá xếp loại (Phòng, Sở, Tỉnh...) Kết quả đánh giá xếp loại (A, B, hoặc C) Năm học đánh giá xếp loại Hình thành khái niệm trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT Sở GD&ĐT Thanh hóa C 2004-2005 Bồi dưỡng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học Lịch sử lớp 12 THPT Sở GD&ĐT Thanh hóa C 2008-2009 Phát huy tính tích cực và bồi dưỡng ý thức bảo tồn văn hóa Dân tộc trong dạy học Lịch sử lớp 10 THPT Sở GD&ĐT Thanh hóa C 2013-2014 ----------------------------------------------------
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_xay_dung_cong_thuc_lich_su_chien_tranh.doc

