Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT

Việc khai thác, sử dụng các hình ảnh trực quan trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông là một yêu cầu cần thiết trong dạy học bộ môn. Bởi vì kiến thức lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, người học không thể trực tiếp quan sát sự kiện, vì vậy trong giảng dạy để dựng lại bức tranh của lịch sử đòi hỏi giáo viên phải vận dụng nhiều biện pháp khác nhau như tạo biểu tượng, sơ đồ hoá, trực quan…. Đặc biệt đối với những sự kiện là một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa hay một trận đánh giáo viên phải sử dụng đến phương pháp trực quan trong dạy học, thông thường là khai thác các bản đồ dạy học.

Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn không ít giáo viên lên lớp “chay”, chỉ cung cấp kiến thức bài học mà không chú trọng đến vấn đề khai thác các tranh, ảnh, bản đồ, đồ dùng dạy học khác.

doc 22 trang SKKN Lịch Sử 17/11/2025 130
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT

Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 12 ở trường THPT
 khoa nhưng rất cần thiết đối với tiết học.
- Xác định những kiến thức cơ bản của diễn biến sự kiện cần thể hiện trên bản đồ; sưu tầm, chọn lọc các nguồn tư liệu liên quan đến diễn biến của sự kiện được trình bày trên bản đồ: văn bản, số liệu, tranh ảnh, phim tư liệu...
- Tiến hành xử lý bản đồ từ dạng tĩnh sang dạng động tương ứng với diễn biến của những sự kiện lịch sử được trình bày trên bản đồ sang dạng kỹ thuật số nhờ vào một số phần mềm hỗ trợ: ACD.See, Photoshop, Hero...
- Dự kiến số slide thích hợp với số lượng đối tượng được lựa chọn để trình diễn trên bản đồ. 
- Tiến hành xây dựng và xem trước (có đối chiếu với giáo án) để điều chỉnh các slide, kiểu và thời gian trình diễn các hiệu ứng cho hợp lý hơn với kế hoạch sư phạm của giáo án.
2.4. Biện pháp thực hiện đề tài 
Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học mục 3: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc của mục II. Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925 trong bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến 1925”, SGK lớp 12– Chương trình chuẩn.
Nội dung bài học thuộc tiết 17 theo phân phối chương trình lịch sử lớp 12, khi dạy mục 3: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi sử dụng BĐGKĐT để giảng dạy
Nội dung xây dựng và cách sử dụng BĐGKĐT của mục 3: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
Trước hết, cần xác định những kiến thức nào trong bài cần được thể hiện trên bản đồ:
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến 1917.
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp .
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Liên Xô. 
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Trung Quốc .
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1925 đến 1928.
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1928 đến 1930.
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1935 đến 1941.
 Từ những kiến thức trên, cần xác định những bản đồ cần được thiết kế và các thông tin khác có thể kết hợp đưa vào để làm rõ những nội dung sự kiện mà bản đồ thể hiện: 
- Bản đồ thế giới ở dạng bản đồ câm đã được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm: ACDSee, Hero, công cụ Drawing để trực tiếp vẽ lên Slide về hành trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc theo kiến thức lịch sử, theo từng giai đoạn gắn với từng điểm đến của Người.
- Một số hình ảnh, đoạn phim ngắn (khoảng 1 phút) để mở rộng kiến thức, hỗ trợ cho bài học:
+ Hình ảnh Bến cảng Nhà Rồng; Tàu Đô đốc Latouche Tréville, ảnh Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, bìa sách Bản án chế độ thực dân Pháp, bìa sách Đường Kách mệnh, tranh vẽ Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
+ Một số đoạn phim ngắn (khoảng 1 phút): Bối cảnh đất nước, quê hương và buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, phim hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp 1919, phim hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc,
- Ý tưởng xây dựng và sử dụng các Slide có thể hiện BĐGKĐT trong bài học: 
+ Slide 1, phản ánh giai đoạn đầu tiên 
Nguyễn Ái Quốc rời bến Cảng Nhà Rồng ra 
đi tìm đường cứunước. Giáo viên nhấp
 chuột vào biểu tượng hoa văn chữ
Sài Gòn để chiếu đoạn phim nói về quê 
hương, gia đình và hành trình trong buổi
đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người Slide 1
(phim được tạo bởi liên kết Trigger). Đồng thời giáo viên có thể mở rộng kiến thức bài học cho học sinh bằng cách click chuột vào ô Sài Gòn để giới thiệu cho học sinh hình ảnh con Tàu Đô đốc Latouche Tréville mà Người đã đi (hình ảnh được tạo bởi liên kết Trigger). Trên bản đồ thế giới bỏ trống, giáo viên sử dụng công cụ Drawing để vẽ đường mũi tên thể hiện hướng đi của Người từ Sài Gòn sang phương Tây, kết hợp với tạo hiệu ứng động (chế độ Wipe), và chế độ Zoom để thể hiện những điểm đến của Người.
	 + Từ slide 1 giáo viên copy để tạo slide 2, và cũng tương tự như thao tác ở slide 1, giáo viên sử dụng công cụ Drawing để vẽ lên lược đồ những hướng đi tiếp theo của Người nối tiếp ở slide 1, kết hợp tạo hiệu ứng động ở chế độ Wipe và chế độ Zoom để thể hiện điểm đến của Người. Để mở rộng thêm kiến thức, hỗ trợ cho bài giảng, giáo viên nhấp chuột vào biểu tượng hình tròn, màu đỏ ở điểm Pari để chiếu cho học sinh xem ảnh Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội 
đại biểu lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, và bìa sách Bản án chế độ thực dân Pháp kết hợp với việc giới thiệu những nội dung chính của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (Hình ảnh được tạo bằng liên kết Trigger). 
	 Nếu thời gian cho phép, giáo viên 
 Slide 2 kích chuột một lần nữa vào biểu tượng hình tròn màu đỏ điểm Pari để trình chiếu cho học sinh xem đoạn phim ngắn nói về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại đất Pháp 1919 (phim được chèn và tạo liên kết bằng công cụ Trigger). Những hình ảnh này tác động mạnh mẽ đến nhận thức và cảm xúc học sinh. Sau khi trình bày xong nội dung slide 2, giáo viên nêu vấn đề: “Công lao to lớn đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc đối với lịch sử dân tộc là gì?” 
 + Ở slide 3, giáo viên cũng thực hiện việc copy slide 2 rồi sử dụng công cụ Drawing để vẽ mũi tên thể hiện hướng đi của Nguyễn Ái Quốc từ đất Pháp sang Liên Xô, kết hợp với biểu tượng hình tròn, màu đỏ thể hiện điểm đến của Người (GV cũng sử dụng chế độ Wipe và Zoom để tạo hiệu ứng đường đi và địa điểm
 đến của Người). Từ biểu tượng hình tròn,
 màu đỏ ở Matxcơva, GV nhấp chuột để 
chiếu hình ảnh Nguyễn Ái Quốc phát biểu 
tại Đại hội quốc tế nông dân. GV giảng về 
nội dung của bài phát biểu của Nguyễn Ái
 Quốc tại Đại hội về vị trí, vai trò của 
giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh 
giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Slide 3
 + Slide 4 thể hiện những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Trung Quốc năm 1924, GV copy slide 3, sau đó tạo các biểu tượng hình tròn, màu đỏ gắn với thời gian,
Slide 4
những điểm đến của Nguyễn Ái Quốc tại Trung Quốc (sử dụng hiệu ứng ở chế độ Zoom). Để mở rộng kiến thức bài học, GV nhấp chuột vào biểu tượng hình tròn, màu đỏ ở Quảng Châu để giới thiệu cho học sinh về tác phẩm Đường Kách mệnh. Nếu có thời gian GV tiếp tục nhấp chuột lần nữa vào biểu tượng hình tròn, màu đỏ với 
chữ 
Quảng Châu để chiếu cho học sinh xem thước phim về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Trung Quốc năm 1925. GV nêu câu hỏi: “Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1921 đến 1925 đã chuẩn bị những nhân tố gì cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?”
 + Tương tự, GV tạo slide 5 bằng cách copy slide 4, rồi tạo biểu tượng hình tròn, màu đỏ và ghi thời gian, cho hiệu ứng động với chế độ Zoom thể hiện những điểm đến của
 Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1924 đến 1928 (hoạt động ở Liên Xô, Italia, TháiLan) và sự kiện năm 1930, GV tạo biểu tượng tròn, màu đỏ, kết hợp với cờ Đảng, địa điểm Cửu Long cho hiệu ứng Zoom lặp lại nhiều lần để
 Slide 5 thể hiện một nội dung quan trọng của bài học. GV nhấp chuột vào biểu tượng Cửu Long để chiếu cho học sinh xem ảnh vẽ Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, giúp học sinh mở rộng kiến thức. 
+ Slide 6 trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1935 đến khi về nước 1941, tương tự, GV copy slide 5, rồi sử dụng công cụ Drawing vẽ tiếp hướng đi của Người từ Liên Xô qua các nước và trở về Việt Nam vào 
năm 1941. GV sử dụng hiệu ứng Wipe để thể
 hiện hướng đi và chế độ Zoom để xác định 
những địa danh mà Nguyễn Ái Quốc đã đến.
 Nếu còn thời gian, GV nhấp chuột vào biểu
 tượng hình tròn màu đỏ với địa điểm Quế Lâm 1938 để chiếu đoạn phim
Slide 6
nói về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Quế 
Lâm – Trung Quốc năm 1938. Nhấp chuột vào 	
biểu tượng hoa văn với địa điểm Cao Bằng cho học sinh xem ảnh Lán Khuổi Nậm ở Cao Bằng, nơi ở và làm việc của Người sau khi về Tổ Quốc. Qua đó mở rộng thêm những kiến thức ngoài sách giáo khoa cho học sinh. 
2.5. Kết quả đạt được
2.5.1. Đối với giáo viên
Sau khi thực hiện việc giảng dạy một số tiết học có sử dụng BĐGKĐT và có sự tham gia dự giờ của những giáo viên trong tổ, tôi đã tiến hành khảo sát về hiệu quả của tiết học có sử dụng BĐGKĐT so với bài học sử dụng bản đồ giáo khoa truyền thống thông qua việc trao đổi, thăm dò ý kiến giữa các giáo viên trong tổ bộ môn Lịch sử của nhà trường (04 GV). 
	 Đến nay, toàn bộ giáo viên đang tham gia giảng dạy bộ môn lịch sử đều đã ứng dụng CNTT vào bài giảng, trong số đó có 3/4 số giáo viên dạy lịch sử của nhà trường bước đầu đã sử dụng BĐGKĐT trong dạy học. Đặc biệt đối với một số GV Lịch sử sau khi đã được sử dụng BĐGKĐT trong dạy học thì cho rằng các ứng dụng của BĐGKĐT có thể thay thế cho việc sử dụng các loại bản đồ treo tường truyền thống trong dạy học và có hiệu quả lớn trong việc phát huy tính tích cực của người học qua sự tương thích của yếu tố CNTT trong dạy học. Tất cả đều có đánh giá cao việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử về tính khả thi, phát huy tính chủ động, tích cực của người học, góp phần trong việc đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học còn góp phần khắc phục sự thiếu hụt về đồ dùng dạy học bộ môn.
2.5.2. Đối với học sinh
Qua khảo sát cho thấy việc thực hiện BĐGKĐT có tác dụng cao trong việc gây hứng thú học tập lịch sử cho HS, góp phần lớn nâng cao hiểu biết của người học về sự kiện lịch sử thông qua việc được tiếp cận các nguồn thông tin đa dạng, phong phú do BĐGKĐT đem lại. Mặt khác, đối với một số kiến thức về địa danh, các sự kiện thì với bài học có sử dụng BĐGKĐT giúp HS ghi nhớ sự kiện, nắm tiến trình lịch sử vững chắc và hiểu lịch sử một cách sâu sắc hơn, tránh sự “nhầm lẫn” về kiến thức nhất là các địa danh, sự kiện của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa. 
Ngoài ra BĐGKĐT còn có tác dụng tốt trong việc tạo điều kiện cho người học phát huy tính tích cực, chủ động tham gia xây dựng bài, hoạt động nhóm, qua đó phát triển các năng lực tư duy, thực hành và hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm đúng đắn đối với Lịch sử. 
Nhìn chung, đa số HS đều tỏ ra rất hứng thú và có nguyện vọng được học thường xuyên hơn với những tiết học có sử dụng BĐGKĐT để các em có cơ hội tiếp cập nhiều nguồn thông tin phong phú, sinh động ngoài SGK và các tài liệu viết khác, đồng thời có điều kiện thuận lợi để trao đổi, thảo luận, giải quyết các dạng bài tập nhận thức và còn có thể được trực tiếp trình bày những bài tập nhỏ mà HS (hoặc nhóm) đã chuẩn bị trước trên máy tính.
Mặt khác, để đánh giá về hiệu quả giờ học có sử dụng BĐGKĐT, sau khi học xong nội dung bài học, tôi đã tiến hành cho học sinh các lớp làm bài kiểm tra. Với những câu hỏi mở rộng kiến thức và liên quan đến kỹ năng thực hành thì đa số học sinh các lớp làm bài tốt hơn trước.
 Như vậy, xét cả về mặt định tính và định lượng, việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử nhằm đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng bộ môn là khả thi và hiệu quả.
PHẦN III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Từ thực tiễn của quá trình thực hiện đề tài về việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi rút ra một số kết luận chủ yếu sau đây:
Các phương tiện trực quan là một trong những “cầu nối” có giá trị giữa hiện thực quá khứ khách quan với nhận thức lịch sử của HS; vì vậy, nó có ý nghĩa lớn trong việc góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, nhất là đối với việc xây dựng và sử dụng BĐGĐT trong dạy học bộ môn.
Với những đặc điểm riêng biệt của BĐGKĐT như tính số hóa, chương trình hóa, tính đa phương tiện, đa truyền thông và tính tương tác đã tạo sự khác biệt lớn giữa bài học có sử dụng BĐGKĐT với bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường thông thường, tạo nên sự chuyển biến mới trong PPDH của giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đồng thời với bài học có sử dụng BĐGKĐT giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, mở rộng thông tin, kiến thức, qua đó phát huy tích cực trong học tập của học sinh, nâng cao chất lượng hiệu quả giờ học.
Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông có tính khả thi cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn theo hướng hiện đại, đồng thời góp phần đẩy mạnh cuộc vận động ứng dụng CNTT trong dạy học của Bộ GD-ĐT.
Việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử sẽ mang lại nhiều tác dụng đáng kể trong việc:
- Phát huy năng lực ứng dụng CNTT của GV và HS trong việc khắc phục những khó khăn về thiết bị dạy học và đáp ứng kịp thời, hiệu quả những yêu cầu dạy học của bộ môn.
- Giúp HS tiếp cận lịch sử một cách cụ thể, trực quan, sinh động từ nhiều thông tin đa dạng. Điều này giúp HS hiểu biết lịch sử đầy đủ, sâu sắc hơn và tạo được hứng thú học tập bộ môn.
- Giúp GV chủ động trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức tích cực của HS trên lớp, thiết thực góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng của bài học lịch sử.
2.2. Kiến nghị
	Từ thực tiễn giảng dạy và thăm dò ý kiến của các đồng nghiệp,tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị như sau:
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đầu tư nhiều hơn về xây dựng cơ sở vật chất (các phòng học đa chức năng), trang bị các thiết bị phương tiện dạy học hiện đại: như máy tính, máy chiếu Projector, hoặc màn hình tivi màn hình rộng có bộ kết nối... để khuyến khích giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới PPDH.
- Cần có những lớp tập huấn về kỹ năng soạn và dạy bằng giáo án điện tử với sự hỗ trợ của các phần mềm trong đó có phần mềm Powerpoint.
- Đối với giáo viên: không ngừng học tập, tự học, tự bồi dưỡng trình độ tin học để hiểu biết về CNTT, biết khai thác các thông tin trên mạng Internet để phục vụ dạy học, có kĩ năng sử dụng thành tạo các trang thiết bị dạy học hiện đại.
- Cần nhân rộng, thực hiện thí điểm một số tiết dạy lịch sử có sử dụng BĐGKĐT nhiều hơn nữa, để GV trong trường hoặc những trường lân cận có thể học tập, trao đổi kinh nghiệm. 
Với những kết quả bước đầu của đề tài, tôi mong được sự quan tâm, chia sẻ của quý đồng nghiệp, đặc biệt là đối với giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử có thể ứng dụng đề tài này vào trong giảng dạy bộ môn để tạo sự chuyển biến mới trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học, góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở nhà trường phổ thông
 Tôi xin chân thành cảm ơn !
XẤC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
Lê Thị Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa, Lịch sử 12 (2008), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
[2] Sách giáo viên, Lịch sử 12 (2008), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
[3 Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Vụ Giáo Viên, Hà Nội
[4] Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Phương pháp dạy học lịch sử, Tập II, NXBĐHSP, Hà Nội
 [5] Đoàn Văn Hưng (2002), Ứng dụng phần mềm Microsoft Powerpoint nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, ĐHQN
[6] Quách Tuấn Ngọc (1999), Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời đại, Tạp chí ĐH & GDCN, Tháng 8
 [7] Dương Tiến Sỹ, Lê Thanh Oai, Nguyễn Văn Thắng (2002), Sử dụng phần mềm Powerpoint thiết kế các trình phim dạy học sinh học, TCGD, số 23 - 2
[8] Nguyễn Đình Tê (2000), Đồ họa và Multimendia trong văn phòng với Microsoft Powerpoint 2000, NXBGD, Hà Nội

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_xay_dung_va_su_dung_ban_do_giao_khoa_d.doc