Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (Chương trình chuẩn)
Việc khai thác, sử dụng các hình ảnh trực quan trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông là một yêu cầu cần thiết trong dạy học bộ môn. Bởi vì kiến thức lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, người học không thể trực tiếp quan sát sự kiện, vì vậy trong giảng dạy để dựng lại bức tranh của lịch sử đòi hỏi giáo viên phải vận dụng nhiều biện pháp khác nhau như tạo biểu tượng, sơ đồ hoá, trực quan…. Đặc biệt đối với những sự kiện là một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa hay một trận đánh thì vấn đề tạo dựng lại bức tranh thực của sự kiện là một vấn đề khó và giáo viên phải sử dụng đến phương pháp trực quan trong dạy học, thông thường là khai thác các bản đồ dạy học để có thể truyền đạt đầy đủ nội dung sự kiện, điều đó cũng có nghĩa là nếu dạy về các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa mà không sử dụng đến bản đồ để trình bày về diễn biến của sự kiện thì hiệu quả tiết học sẽ không cao, dễ gây cho học sinh sự “nhàmchán”, “hiểu nhầm”sự kiện lịch sử.
Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn không ít giáo viên lên lớp “chay”, chỉ cung cấp kiến thức bài học mà không chú trọng đến vấn đề khai thác các tranh, ảnh, bản đồ, đồ dùng dạy học khác. Nguyên nhân của vấn đề trên là do sự hạn chế về các loại tranh ảnh, các loại bản đồ, đồ dùng dạy học ở các trường học, do nhận thức về vị trí vai trò của các loại đồ dùng trực quan trong dạy học của giáo viên chưa cao, một phần là ở “sự nhiệt tình” của người dạy còn hạn chế.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (Chương trình chuẩn)
bài giảng, trong số đó có hơn 2/3 số giáo viên dạy lịch sử của nhà trường bước đầu đã sử dụng BĐGKĐT trong dạy học. Đặc biệt đối với một số GV Lịch sử sau khi đã được sử dụng BĐGKĐT trong dạy học thì cho rằng các ứng dụng của BĐGKĐT có thể thay thế cho việc sử dụng các loại bản đồ treo tường truyền thống trong dạy học và có hiệu quả lớn trong việc phát huy tính tích cực của người học qua sự tương thích của yếu tố CNTT trong dạy học. Tất cả đều có đánh giá cao việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử về tính khả thi, phát huy tính chủ động, tích cực của người học, góp phần trong việc đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học còn góp phần khắc phục sự thiếu hụt về đồ dùng dạy học bộ môn. Qua đó, có thể rút ra một số nhận xét chung về việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn như sau: Việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn so với bài học sử dụng bản đồ giáo khoa thông thường thì BĐGKĐT có nhiều ưu điểm hơn so với các loại phương tiện dạy học truyền thống, như tính số hoá và chương trình hoá. Yếu tố số hoá của BĐGKĐT tạo ra khả năng lưu giữ, điều chỉnh và chia sẻ khá thuận lợi về mặt kiến thức. Thông qua BĐGKĐT, giáo viên có thể cho ẩn, hiện các sự kiện (thông qua các kí hiệu đã thiết kế) một cách linh hoạt, có thể nhấn mạnh, khắc sâu địa danh của sự kiện một cách dễ dàng, qua đó sẽ tạo cho học sinh khả năng nắm bắt bài học nhanh và nhớ được sự kiện, tránh trường hợp “nhầm” kiến thức. Yếu tố chương trình hoá của BĐGKĐT sẽ giúp GV và HS chủ động, linh hoạt trong quá trình sử dụng. Giáo viên có thể phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách hướng dẫn học sinh cùng nhau khai thác bài học, ví dụ cho học sinh xác định không gian diễn ra một chiến dịch, một trận đánh (Diễn biến Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Biên giới 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ) bằng cách khoanh vùng địa điểm diễn ra trận đánh, điểm đánh, hoặc khi dạy về mục các cuộc phát kiến địa lí ở chương trình lịch sử lớp 10, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ đường đi của các nhà phát kiến địa lý, xác định các điểm đến của các nhà phát kiến, hay khi giảng dạy về hành trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, giáo viên cũng có thể phát huy tính tích cực học tập của người học thông qua việc yêu cầu học sinh lược thuật trên bản đồ về hành trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc gắn với mốc thời gian từ năm 1911 đến 1930, qua đó sẽ giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng thực hành bản đồ trong dạy học. Nội dung của BĐGKĐT tích hợp nhiều dạng thông tin phong phú: ký hiệu chữ, đồ hoạ, hoạt hình, màu sắc, hình ảnh, phim qua đó, giúp học sinh nhận thức lịch sử một cách sâu sắc và hứng thú hơn. Đồng thời việc thiết kế và sử dụng các loại BĐGKĐT trong dạy học bộ môn còn góp phần bổ sung vào hệ thống danh mục các loại đồ dùng dạy học hiện nay ở nhà trường vẫn còn thiếu, hoặc không có, nhất là các loại bản đồ. Đối với học sinh Để làm cơ sở đánh giá từ phía người tiếp nhận thông tin, trong năm học 2009-2010, chúng tôi đã tiến hành giảng dạy thực nghiệm ở lớp 12A7 bài học có sử dụng BĐGKĐT và giảng dạy lớp 12A8 làm lớp đối chứng với bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường. Trong năm học 2010-2011, chúng tôi tiến hành giảng dạy thực nghiệm ở lớp 12A1, 12A4 bài học có sử dụng BĐGKĐT và giảng dạy lớp 12A5, 12A9 làm lớp đối chứng với bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường. Sau khi học bài học, chúng tôi đã phát phiếu điều tra về những thông tin liên quan đến bài học có sử dụng BĐGKĐT so với bài học sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường ở lớp 12A7 (năm học 2009-2010); lớp 12A1 và lớp 12A4 (năm học 2010-2011). Nội dung phiếu thăm dò dành cho các lớp thực nghiệm có 6 nội dung như nhau để học sinh so sánh hiệu quả giữa bài học lịch sử được giảng dạy có sử dụng BĐGKĐT (chủ yếu là sử dụng phần mềm Powerpoint) với bài học được giảng dạy theo kiểu truyền thống với việc sử dụng bản đồ treo tường truyền thống. Mức độ so sánh được đánh số tăng dần từ 1 đến 3 để HS lựa chọn (số 1 tương ứng mức yếu hơn; số 2: gần như nhau; số 3: tốt hơn) (nội dung ở bảng 2). Bảng 2: Thống kê số liệu điều tra HS về việc học tập LS có sử dụng BĐGKĐT Lớp Sỉ số Mức độ so sánh Nội dung thăm dò 1 2 3 Năm học 2009-2010 12A7 53 1. Sự đa dạng, phong phú của các nguồn thông tin (Số HS / % ) 00 8 (15,1%) 45 (84,9%) 2.Việc theo dõi bài của người học (Số HS / %) 8 (15,1%) 12 (22,6%) 33 (62,3%) 3. Việc nâng cao hiểu biết của người học về sự kiện lịch sử (Số HS / % ) 6 (11,3%) 11 (20,8%) 36 (67,9%) 4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành của người học (Số HS / % ) 7 (13,2%) 15 (28,3%) 31 (58,5%) 5. Việc ghi nhớ kiến thức của bài học (Số HS / %) 4 (7,5%) 10 (18,9%) 39 (73,6%) 6. Việc gây hứng thú học tập lịch sử đối với người học (Số HS / % ) 01 (1,9%) 5 (9,4%) 47 (88,7%) Năm học 2010-2011 12A1 50 1. Sự đa dạng, phong phú của các nguồn thông tin (Số HS / % ) 00 2 (4%) 48 (96%) 2.Việc theo dõi bài của người học (Số HS / %) 3 (6%) 12 (24%) 35 (70%) 3. Việc nâng cao hiểu biết của người học về sự kiện lịch sử (Số HS / % ) 4 (8%) 9 (16%) 37 (74%) 4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành của người học (Số HS / % ) 01 (2%) 10 (20%) 39 (78%) 5. Việc ghi nhớ kiến thức của bài học (Số HS / %) 02 (4%) 5 (10%) 43 (86%) 6. Việc gây hứng thú học tập lịch sử đối với 00 1 49 người học (Số HS / % ) (2%) (98%) 12A4 54 1. Sự đa dạng, phong phú của các nguồn thông tin (Số HS / % ) 00 4 (7,4%) 50 (92,6%) 2.Việc theo dõi bài của người học (Số HS / %) 6 (11,1%) 15 (27,8%) 33 (61,1%) 3. Việc nâng cao hiểu biết của người học về sự kiện lịch sử (Số HS / % ) 7 (13%) 11 (20,4%) 36 (66,6%) 4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành của người học (Số HS / % ) 5 (9,3%) 14 (25,9%) 35 (64,8%) 5. Việc ghi nhớ kiến thức của bài học (Số HS / %) 4 (7,4%) 6 (11,1%) 44 (81,5%) 6. Việc gây hứng thú học tập lịch sử đối với người học (Số HS / % ) 00 1 (1,9%) 53 (98,1%) Dựa vào bảng trên có thể thấy các nội dung thứ 1,5,6 ở các lớp thực nghiệm đều có tỷ lệ khá cao trên 70%, đặc biệt ở nội dung cột 6 đạt trên 88%, điều này cho thấy việc thực hiện BĐGKĐT có tác dụng cao trong việc gây hứng thú học tập lịch sử cho HS, góp phần lớn nâng cao hiểu biết của người học về sự kiện lịch sử thông qua việc được tiếp cận các nguồn thông tin đa dạng, phong phú do BĐGKĐT đem lại. Mặt khác, đối với một số kiến thức về địa danh, các sự kiện thì với bài học có sử dụng BĐGKĐT giúp HS ghi nhớ sự kiện, nắm tiến trình lịch sử vững chắc và hiểu lịch sử một cách sâu sắc hơn, tránh sự “nhầm lẫn” về kiến thức nhất là các địa danh, sự kiện của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa. Ngoài ra, các nội dung 2, 3, 4 đều có tỷ lệ trên 50%, như vậy cũng có nghĩa là BĐGKĐT còn có tác dụng tốt trong việc tạo điều kiện cho người học phát huy tính tích cực, chủ động tham gia xây dựng bài, hoạt động nhóm, qua đó phát triển các năng lực tư duy, thực hành và hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm đúng đắn đối với LS. Nhìn chung, đa số HS đều tỏ ra rất hứng thú và có nguyện vọng được học thường xuyên hơn với những tiết học có sử dụng BĐGKĐT để các em có cơ hội tiếp cập nhiều nguồn thông tin phong phú, sinh động ngoài SGK và các tài liệu viết khác, đồng thời có điều kiện thuận lợi để trao đổi, thảo luận, giải quyết các dạng bài tập nhận thức và còn có thể được trực tiếp trình bày những bài tập nhỏ mà HS (hoặc nhóm) đã chuẩn bị trước trên máy tính. Mặt khác, để đánh giá về hiệu quả giữa giờ học có sử dụng BĐGKĐT với giờ học không sử dụng BĐGKĐT, sau khi học xong nội dung bài học, chúng tôi đã tiến hành cho học sinh các lớp làm bài kiểm tra 15’. Các lớp TN và ĐC được chia nhóm như sau: Nhóm I: lớp 12A7 (TN) và lớp 12A8 (ĐC). (năm học 2009-2010) Nhóm II: lớp 12A4 (TN) và lớp 12A5 (ĐC). (năm học 2010-2011) Nhóm III: lớp 12A1 (TN) và lớp 12A9 (ĐC) (năm học 2010-2011) Nội dung bài kiểm tra ở hai lớp trong cùng một nhóm giống như nhau (xem phần phụ lục). Qua xử lý số liệu, kết quả cho thấy: Bảng 3: Thống kê kết quả thực nghiệm về chất lượng dạy học LS có sử dụng BĐGKĐT Nhóm Lớp / Số bài Kết quả thực nghiệm Yếu, kém (điểm <5) Tr. Bình (điểm 5;6) Khá (điểm 7;8) Giỏi (điểm9;10) I Đối chứng 53 11 20,75% 27 50,94% 14 26,42% 01 1,89% Thực nghiệm 53 03 5,66% 15 28,30% 29 54,72% 06 11,32% Mức Chênh lệch 15,09% 22,64% 28,3% 9,43% II Đối chứng 54 09 16,67% 28 51,85% 15 27,78% 02 3,70% Thực nghiệm 54 02 3,70% 19 35,19% 26 48,15% 07 12,96% Mức Chênh lệch 12,97% 16,66% 20,37% 9,26% III Đối chứng 50 10 20% 25 50% 14 28% 01 2% Thực nghiệm 50 03 6% 15 30% 24 48% 08 16% Mức Chênh lệch 14% 20% 20% 14% Từ bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy: Tỉ lệ HS có điểm giỏi của lớp TN tăng so với lớp ĐC: 9,43% (nhóm I), 9,26% (nhóm II), 14% (nhóm III); điểm khá cũng tăng 28,3% (nhóm I), 20,37% (nhóm II), 20% (nhóm III). Tỉ lệ HS có điểm yếu, kém của lớp TN giảm so với lớp ĐC: 15,09% (nhóm I), 12,97% (nhóm II), 14% (nhóm III); điểm trung bình cũng giảm 22,64% (nhóm I), 16,66% (nhóm II), 20% (nhóm III). Đặc biệt với những câu hỏi mở rộng kiến thức và liên quan đến kỹ năng thực hành thì đa số học sinh các lớp thực nghiệm (được học với BĐGKĐT) làm tốt hơn so với các lớp đối chứng (không sử dụng BĐGKĐT) Như vậy, xét cả về mặt định tính và định lượng, việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử nhằm đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng bộ môn là khả thi và hiệu quả, đồng thời những kết quả trên là cơ sở để chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài là: Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ *. Kết luận Từ thực tiễn của quá trình thực hiện đề tài về việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi rút ra một số kết luận chủ yếu sau đây: Các phương tiện trực quan là một trong những “cầu nối” có giá trị giữa hiện thực quá khứ khách quan với nhận thức lịch sử của HS; vì vậy, nó có ý nghĩa lớn trong việc góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, nhất là đối với việc xây dựng và sử dụng BĐGĐT trong dạy học bộ môn. Với những đặc điểm riêng biệt của BĐGKĐT như tính số hóa, chương trình hóa, tính đa phương tiện, đa truyền thông và tính tương tác đã tạo sự khác biệt lớn giữa bài học có sử dụng BĐGKĐT với bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường thông thường. Tạo nên sự chuyển biến mới trong PPDH của giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đồng thời với bài học có sử dụng BĐGKĐT giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, mở rộng thông tin, kiến thức, qua đó phát huy tích cực trong học tập của học sinh, nâng cao chất lượng hiệu quả giờ học. Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông có tính khả thi cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn theo hướng hiện đại, đồng thời góp phần đẩy mạnh cuộc vận động ứng dụng CNTT trong dạy học của Bộ GD-ĐT. Việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử sẽ mang lại nhiều tác dụng đáng kể trong việc: Phát huy năng lực ứng dụng CNTT của GV và HS trong việc khắc phục những khó khăn về thiết bị dạy học và đáp ứng kịp thời, hiệu quả những yêu cầu dạy học của bộ môn. Giúp HS tiếp cận lịch sử một cách cụ thể, trực quan, sinh động từ nhiều thông tin đa dạng. Điều này giúp HS hiểu biết lịch sử đầy đủ, sâu sắc hơn và tạo được hứng thú học tập bộ môn. Giúp GV chủ động trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức tích cực của HS trên lớp, thiết thực góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng của bài học lịch sử. *. Kiến nghị: Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đầu tư nhiều hơn về xây dựng cơ sở vật chất (các phòng học đa chức năng), trang bị các thiết bị phương tiện dạy học hiện đại: như máy tính, máy chiếu Projector, hoặc màn hình tivi màn hình rộng có bộ kết nối... để khuyến khích giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới PPDH. Cần có những lớp tập huấn về kỹ năng soạn và dạy bằng giáo án điện tử với sự hỗ trợ của các phần mềm trong đó có phần mềm Powerpoint. Đối với những trường đã có điều kiện về trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy học, cần phát huy, khuyến khích GV trong việc tự xây dựng đồ dùng dạy học nói chung và xây dựng BĐGKĐT nói riêng trong dạy học bộ môn. Và xem đây là một tiêu chí bắt buộc để đánh giá, xếp loại thi đua của giáo viên. Có như vậy mới phát huy được sự sáng tạo của giáo viên trong việc đổi mới PPDH, trong đó có việc tự làm đồ dùng dạy học. Đối với giáo viên: không ngừng học tập, tự học, tự bồi dưỡng trình độ tin học để hiểu biết về CNTT, biết khai thác các thông tin trên mạng Internet để phục vụ dạy học, có kĩ năng sử dụng thành tạo các trang thiết bị dạy học hiện đại. Cần nhân rộng, thực hiện thí điểm một số tiết dạy lịch sử có sử dụng BĐGKĐT nhiều hơn nữa, để GV trong trường hoặc những trường lân cận có thể học tập, trao đổi kinh nghiệm. Với những kết quả bước đầu của đề tài, chúng tôi mong được sự quan tâm, chia sẻ của quý đồng nghiệp, đặc biệt là đối với giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử có thể ứng dụng đề tài này vào trong giảng dạy bộ môn để tạo sự chuyển biến mới trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học, góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở nhà trường phổ thông. NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Chí Tâm TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu lịch sử Sách giáo khoa, Lịch sử 12 (2008), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách giáo viên, Lịch sử 12 (2008), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Đỗ Thanh Bình (Chủ biên), Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Xuân Trường (2010), Luyện tập và tự kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Lịch sử 12 NXBGD Việt Nam, Hà Nội Trương Ngọc Thơi (2008), Bài tập Lịch sử 12 tự luận và trác nghiệm, NXB ĐHQG Hà Nội Tài liệu lý luận dạy học Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Vụ Giáo Viên, Hà Nội Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Phương pháp dạy học lịch sử, Tập II, NXBĐHSP, Hà Nội Tài liệu về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin Chỉ Thị 29/2001/CT-BGD&ĐT Của Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT (30/7/2001) Nguyễn Thi Côi, Đoàn Văn Hưng (2004), Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Tạp Chí Giáo Dục, số 98, tháng 10 Đoàn Văn Hưng (2002), Ứng dụng phần mềm Microsoft Powerpoint nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, ĐHQN Quách Tuấn Ngọc (1999), Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời đại, Tạp chí ĐH & GDCN, Tháng 8 Quách Tuấn Ngọc (2001), Đổi mới giáo dục bằng công nghệ thông tin và truyền thông, Hội thảo khoa học, Hà Nội Dương Tiến Sỹ, Lê Thanh Oai, Nguyễn Văn Thắng (2002), Sử dụng phần mềm Powerpoint thiết kế các trình phim dạy học sinh học, TCGD, số 23 - 2 Nguyễn Đình Tê (2000), Đồ họa và Multimendia trong văn phòng với Microsoft Powerpoint 2000, NXBGD, Hà Nội Lê Công Triêm (2004), Bài giảng điện tử và quy trình thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Huế
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_xay_dung_va_su_dung_ban_do_giao_khoa_d.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớ.pdf

