Sáng kiến kinh nghiệm Xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế

Từ đầu những năm 80 của thế kỉ XX, nhất là từ sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa. Cùng với sự phát tiển của nhân loại, xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn tất cả các khu vực, quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Toàn cầu hóa làm nảy sinh nhu cầu hội nhập quốc tế của tất cả các quốc gia; không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị hay tôn giáo. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển.

Bước sang thế kỉ XXI, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu thế chủ yếu của các quốc gia trên thế giới , trong đó có Việt Nam. Quá trình này đã và đang tạo ra cho Việt Nam những cơ hội để bứt phá và phát triển. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế không chỉ đem đến những cơ hội mà còn đặt ra cho mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là những quốc gia nhỏ, yếu, đang phát triển những khó khăn, thách thức to lớn trên mọi phương diện. Đại hội XI của Đảng (2011) khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng.

docx 47 trang SKKN Lịch Sử 17/11/2025 160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế

Sáng kiến kinh nghiệm Xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế
ắc phục những khó khăn đó bắt buộc phải hướng ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, học tập ứng dụng khoa học – công nghệ
	+ Trong những năm 60 - 70 , Mĩ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Cuộc chiến này buộc các nước ASEAN phải tăng cường hợp tác để hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn vào khu vực . Mặt khác, để phục vụ cho cuộc chiến này, Mĩ phải xây dựng các căn cứ quân sự trong khu vực. Vì thế Mĩ phải đầu tư xây dựng hệ thống dịch vụ Mĩ đầu tư giữa lực các nước trong khu vực cần nguồn vốn. Vì thế vấn đề đặt ra là các nước phải tận dụng nguồn vốn đầu tư này của Mĩ. (Nhật Bản cũng tận dụng hiệu quả nguồn vốn của Mĩ ở chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam). Bối cảnh đó nên các nước sáng lập chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại để đáp ứng đòi hỏi của quốc tế và khu vực.
- Việt Nam học tập bài học kinh nghiệm từ các nước sáng lập ASEAN?
- Việt Nam tiến lên xây dựng đất nước, tiến hành đổi mới và hội nhập có nhiều điểm khác biệt so với các nước láng giềng:
+ Việt Nam phát triển đất nước muộn hơn so với các nước. Khi ta hoàn thành sự nghiệp bảo vệ đất nước tiến lên xây dựng CNXH, thì các nước trong khu vực đã phát triển lên một trình độ mới.
+ Trên con đường đổi mới và hội nhập của Việt Nam, chúng ta kết hợp đồng thời hai chiến lược hướng nội và hướng ngoại cùng một thời điểm, không được chú trọng chiến lược này, coi nhẹ chiến lược khác. Mục tiêu đổi mới của Việt Nam hiện nay là tăng cường hội nhập với các nước nên Việt Nam cần phải tận dụng những điều kiện thuận lợi từ quốc tế như vốn, công nghệ, quản lý để phục vụ cho mục tiêu hướng nội trong nước là CNH- HĐH và ngược lại những thành tựu của CNH- HĐH góp phần cho Việt Nam hội nhập với thế giới 
- Rút kinh nghiệm từ các nước sang lập A, Việt Nam cần phải khắc phục những khó khăn, hạn ché mà họ gặp phải trước đây trong chiến lược hướng nội, hướng ngoại như: hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường bên ngoài, không được để vấn đề tài chính của khu vực và thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam.
- Cố gắng hài hoà giữa phát triển kinh tế với cân bằng xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư phát triển trong nước với xuất khẩu.
Câu 10. Những chuyển biến của tình hình quốc tế và khu vực ở Đông Nam Á từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX đã mở ra cơ hội hợp tác trong khu vực.
- Từ đầu những năm 90 TK XX,Chiến tranh lạnh đã chấm dứt trên thế giới do đó quan hệ đối đầu trước đó từng bước nhường chỗ cho đối thoại, hợp tác, môi trường hòa bình dần dần thay thế cho những căng thẳng, xung đột trên thế giới đặc biệt là sự đối đầu 2 cực Xô-Mĩ giữa CNXH và CNTB trong hòa bình, điều đó đã tác động tích cực đến Đông Nam Á, dẫn đến sự đối đầu giữa 2 nhóm nước (nhóm nước sáng lập ASEAN với các nhóm nước Đông Dương) trong thời kì Chiến tranh lạnh cũng chấm dứt.
- Ở Đông Nam Á, cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương không còn, môi trường hòa bình trong khu vực đã xuất hiện, hiệp định hòa bình về Campuchia được kí kết(1991) tại Pari, vấn đề Campuchia được giải quyết, việc chống Việt Nam của nhóm nước ASEAN cũng chấm dứt, sự đối đầu giữa ASEAN và Đông Dương không còn, 2 nhóm nước bước vào thời kì đối thoại, khu vực Đông Nam Á có hòa bình, các nước trong khu vực tập trung vào xây dựng đất nước, lấy phát triển kinh tế làm trọng điểm nên các nước ASEAN cần hợp tác với nhau.
- Với xu thế đối thoại, hợp tác trong khu vực Đông Nam Á đã mở ra cơ hội cho các nước Đông Dương gia nhập ASEAN. Từ 1995 các nước Đông Dương và Mianma lần lượt được kết nạp vào tổ chức này( Việt Nam 1995, Lào,Mianma 1997, CPC 1999) 10 nước Đông Nam Á đã cùng đứng chung trong 1 tổ chức khu vực.
- Sự đối đầu căng thẳng ở Đông Nam Á không còn, các nước trong khu vực có chung nguyện vọng đẩy mạnh hợp tác kinh tế, an ninh chính trị, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Đông Dương từ bãi chiến trường trở thành thị trường, trở thành địa bàn đầu tư của các nước ASEAN. Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN chuyển trọng tâm sang phát triển chiến lược, hợp tác kinh tế cùng với việc xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định cùng phát triển và từ đây vấn đề hợp tác kinh tế, an ninh được đẩy mạnh và mở rộng cả trong và ngoài khu vực (AFTA, ARF, ASEM, APEC,..)
 Tình hình trên đây đã mở ra cơ hội hợp tác cho các nước trong khu vực ĐNA
Câu 11. Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra thời kì mới cho sự hợp tác giữa các nước trong khu khu vực Đông Nam Á.
- 7/1995,VN gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này 
- Sự kiện VN gia nhập ASEAN đã kết thúc 1 thời kì dài( 1967-1995) quan hệ giữa VN- ASEAN trải qua những diễn biến thăng trầm đầy biến động dưới tác động của những nhân tố bên ngoài và bên trong và cuối cùng đã pt thoe chiều hướng tích cực, đoàn kết, hợp tác trong khu vực
- Đối với VN, do đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, đặc biệt là đổi mới về đối ngoại, VN đã kịp thời cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực tạo ra bước đi đầu tiên trong tiến trình hội nhập, dây là chiếc cầu nối cho sự hội nhập của VN từ khu vực ra thế giới
- VN gia nhập ASEAN đánh dấu bước pt đặc biệt quan trọng của tổ chức này, góp phần làm cho ASEAN mạnh hơn, chấm dứt hơn 1 nửa thời kì Đông Nam Á bị chia thành 2 trận tuyến đối địch nhau, mở ra thời kì các bên tăng cường hợp tác với nhau cùng pt vì lợi ích của mỗi bên và của toàn khu vực
- Việc kết nạp Việt Nam vào ASEAN, uy tín và vị thế của tổ chức này được nâng cao trên trường quốc tế. Sự kiện này mở ra một triển vọng về một ASEAN mở rộng bao gồm tất cả các quốc gia ở Đông Nam Á- một ý tưởng mà ASEAN đã ấp ủ ngay từ khi mới thành lập
- Việc VN gia nhập ASEAN đã tạo ra một bước thuận lợi cho Lào,Mianma gia nhập tổ chức này vào 1997, sau đó là Campuchia (1999) bước phát triển từ ASEAN 6 lên ASEAN 10 đánh dấu sự chuyển biến của Hiệp hội không những về số lượng thành viên tăng lên mà quan trọng hơn là sự chuyển biến nhận thức về sự cần thiết có một tổ chức toàn khu vực vừa nâng cao vị thế quốc tế, vừa tăng sức mạnh của toàn Hiệp hội cũng như của mỗi nước thành viên, điều đó đã tạo điều kiện cho sự phát triển của ASEAN cả bề rộng lẫn bề sâu.
Câu 12. Vì sao có thể nói hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế tất yêu của thế giới ngày nay?
- Trong thời đại ngày nay, vấn đề hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế tất yếu và là dòng chính trong quan hệ quốc tế, là nhu cầu của các dân tộc.
- Sở dĩ khẳng định như vậy là vì:
+ Trước sự thay đổi của tình hình thế giới nhât slaf trong bối cảnh trật tự thế giới mới đang hình thành, cùng với những tác động của cuộc cách mạng KHKT, xu thế toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển, lấy kinh tế làm trọng điểm. Bởi ngày nay kinh tế trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế, đồng thời chính sách đối ngoại của các nước từng bước được điều chỉnh theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo một môi trường quốc tế thuận lợi để hợp tác và phát triển, giải quyết mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác.
+ Thực tiễn trong lịch sử thế kỉ XX đã trải quan 2 cuộc chiến tranh thế giới, sau đó là chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô – Mĩ, giữa hai khối Đông – Tây. Chiến tranh không những gây tổn thất lớn cho nhân loại mà còn làm suy yếu các nước tham chiến hoặc làm chậm sự phát triển của các nước đó. Loài người đã thấm thía những tổn thất của chiến tranh và phải gánh chịu những hậu quả của nó. Cho nên lúc này hòa bình, ổn định trở thành nhu cầu và nguyện vọng thiết tha của nhân loại.
+ Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề toàn cầu đang đặt ra đòi hỏi thế giới phải chung tay giải quyết. Sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên, sự biến đổi khí hậu, sự bùng phát bệnh dịch, chủ nghĩa khủng bố, xung đột, nội chiến diễn ra...
+ Với sự phát triển của KHKT hiện đại của thế giới ngày nay, nếu chiến tranh xung đột lớn sảy ra sẽ là cuộc chiến tranh hủy diệt không phân thắng bại. Vì vậy đòi hỏi các dân tộc phải đoàn kết và phải có nhiều giải pháp chung tay gìn giữ hòa bình, ổn định hợp tác... sẽ trở thành xu thế của toàn nhân loại, trở thành nhu của toàn nhân loại.
Câu 13. Những nội dung chính của lịch sử TG hiện đại từ 1945-2000. Hãy chọn và phân tích một nội dung được xem là nhân tố chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn nửa sau thế kỉ XX. 
* Những nội dung chính....:
- Sự hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh II- trật tự 2 cực Ianta..... 2 cực 2 phe do Liên Xô và Mĩ đứng đầu hai cực hai phe.
- CNXH từ phạm vi một nước đã trở thành hệ thống thế giới..... chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao của khoa học, kĩ thuật Tg nhưng đến 1989-1991, do những sai lầm trong đường lối và phương pháp cải tổ nên đã bị sụp đổ. 
- Sau Chiến tranh thế giới thứ II, cao trào giải phóng dân tộc đã bùng nổ mạnh mẽ ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh. Thắng lợi của nó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt chính trị thế giới, đưa nhiều dân tộc có chủ quyền bước lên vũ đài chính trị TG. 
- Hệ thống TBCN có sự thay đổi quan trọng. Trước hết là sự vươn lên của nước Mĩ, sau đó là sự vươn lên của Tây Âu và Nhật Bản để hình thành ba trung tâm kinh tế, tài chính thế giới. 
- So với nửa đầu thế kỉ XX, trong nửa sau thế kỉ XX, quan hệ quốc tế được mở rộng và đa dạng hơn bao giờ hết.
- Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật bùng nổ và diễn ra với qui mô, nội dung, nhịp điệu chưa từng thấy cùng với những hệ quả về nhiều mặt. Xu thế toàn cầu hoá đã diễn ra một cách mạnh mẽ trên toàn TG.
* Chọn nội dung và phân tích....
Chọn: trật tự hai cực Ianta...
- Đây là lần đầu tiên trong quan hệ quốc tế có sự phân tuyến một cách triệt để thành hai phe, tổ chức theo hai hệ thống chính trị đối lập nhau. Trong đó, lần đầu tiên CNTB không còn đơn phương định đoạt các vấn đề toàn cầu. Bởi đã xuất hiện một chủ thể chính trị XH được xem là tiên tiến - CNXH; cũng là lần đầu tiên CNXH tham gia quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử nhân loại. 
- Trật tự hai cực đã làm xuất hiện một kiểu quan hệ quốc tế mới dựa trên nguyên tắc hoàn toàn mới mẻ. Những nguyên tắc đó phụ thuộc vào sự biến chuyển trong các quan hệ giữa CNTB với CNXH, giữa CNTB và CNXH với các nước mới giải phóng và trong nội bộ các nước TB, trong nội bộ các nước XHCN....
- Trong hơn 40 năm tồn tại trật tự hai cực do Liên Xô và Mĩ làm đại diện đã diễn ra cuộc chạy đua vũ trang, thậm chí có những cuộc chiến tranh cục bộ đẫm máu nhưng TG vẫn có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực: 
+ Sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa và sự ra đời của các quốc gia độc lập tham gia vào đời sống chính trị quốc tế. Vai trò của các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. 
+ Với sự hình thành và phát triển của hệ thống XHCN được xem là đối trọng của CNTB đã có tác dụng ngăn chặn sự bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân. Điều này trước năm 1945 không có. Do đó, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH.
+ Hơn 40 năm qua, với sự tồn tại của trật tự hai cực, mặc dù có những mâu thuẫn, đấu tranh giữa hai bên nhưng thế giới đã không xảy ra những cuộc chiến tranh lớn như hồi đầu thế kỉ. Hòa bình vẫn được giữ vững mặc dù có những cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra ở nơi này nơi kia. Có được điều đó là do cuộc đấu tranh của toàn thể loài người tiến bộ đã có khả năng ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình nhưng cũng còn do sự cân bằng về lực lượng giữa Liên Xô và Mĩ, giữa CNXH và CNTB và cả hai đều tránh đụng đầu nhau trực tiếp về quân sự. 
- Hơn 40 năm nửa sau thế kỉ XX, nền kinh tế thế giới đang vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia và sự ngăn cách khu vực để trở thành một thị trường toàn cầu, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ để tiến tới bước đột phá trong nền kinh tế thế giới.
KẾT LUẬN
Cùng với sự vận động chung của nhân loại, xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn tất cả các quốc gia, từ nhỏ đến lớn; từ các quốc gia đang phát triển đến các quốc gia phát triển; không phân biệt chế độ chính trị hay tôn giáo. Nếu như toàn cầu hóa là một xu thế phát triển tất yếu khách quan thì hội nhập quốc tế là một quá trình phù hợp với những quy luật khách quan đó. Trong hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế vừa là mặt cơ bản, trung tâm, vừa chi phối hội nhập trên tất cả các lĩnh vực khác.
Nắm bắt được xu hướng phát triển của thế giới hiện đại, Nhà nước Việt Nam đã triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hợp tác quốc tế. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và các lĩnh vực khác. Quá trình hội nhập quốc tế của nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: tham gia vào tất cả các tổ chức quốc tế lớn: LiênHợp Quốc và các định chế của nó; WTO; ASEAN, ASEM, APEC và tham gia ký kết hàng hoạt các Hiệp định thương mại tự do song phương với các đối tác trong khu vực và trên thế giới; Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng GDP, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể... 
Những kết quả đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Quá trình này đã và đang tạo ra cho Việt Nam những cơ hội để bứt phá và phát triển. Nhìn lại chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta thấy rõ hơn những thành tựu đạt được, cùng với những thuận lợi, khó khăn, những cơ hội, thách thức để từ đó phát huy các kết quả đã đạt được, tiếp tục chủ động và tích cực để đạt được những thành tựu mới, vững chắc hơn trong thời gian tới. 
Thực tế đã chứng tỏ việc kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là sự lựa chọn đúng đắn, tất yếu đối với nước ta trong bối cảnh toàn cầu hoá sôi động hiện nay. Những thành tựu quan trọng giành được trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là cơ sở để đất nước ta vững bước trên đường hội nhập và phát triển, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, hướng tới mục tiêu chiến lược dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Thanh Quất, Toàn cầu hóa – một cách tiếp cận mới, Tạp chí cộng sản, 2003
2. Đinh Nguyễn An, Sứ mệnh của nền giáo dục hiện đại trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Tạp chí Giáo dục, 2014.
3. Trần Trọng Toàn, Đinh Nguyên Khiêm , Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, 1999.
4. Bộ Ngoại giao, Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
5. Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh, Bồi dưỡng năng lực thi THPT Quốc gia, NXB Đại học sư phạm, 2016.
6. Nguyễn Thế Nghĩa, Nguyễn Thị Hương Giang, Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế và giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2012.
ĐIỂM VÀ NHẬN XÉT ĐỀ TÀI CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
Điểm :
Nhận xét  của TTCM, TPCM: 
TM. TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký, họ và tên)
TM. HỘI ĐỒNG NCKH
(Ý kiến và xác nhận)

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_xu_the_toan_cau_hoa_va_qua_trinh_hoi_n.docx