SKKN Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua Bài 22, Lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)

Trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, cải cách nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học, đẩy mạnh và coi trọng vào việc đổi mới dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy và học nhằm phát triển năng lực của học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗ quan tâm tới việc học sinh tiếp thu được những gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được những gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “ truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục. Trong bối cảnh đó, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của người học là rất cần thiết.

doc 23 trang SKKN Lịch Sử 04/11/2025 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua Bài 22, Lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua Bài 22, Lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)

SKKN Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua Bài 22, Lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)
kết quả của nhóm mình, sau đó giáo viên nhận xét, chốt ý và đưa ra bảng kiến thức đã chuẩn bị sẵn trên khổ giấy Ao để các em có thể so sánh với phần kết quả của nhóm mình. 
Bảng hệ thống hoá kiến thức (giáo viên đã chuẩn bị sẵn vào khổ giấy A0): 
 Kiến thức cơ bản
 - Tháng 8/ 1965, quân ta giành thắng lợi lớn ở Núi Thành (Quảng Nam) và Vạn Tường ( Quảng Ngãi), đã làm dấy lên cao trào “ Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt ” trên khắp miền Nam.
 - Quân dân miền Nam đã đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất 1965 – 1966 của địch với 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “ Tìm diệt” lớn của địch, nhằm vào hai hướng chính ở Đông Nam Bộ và Liên khu V. Quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 42.000 quân Mĩ.
 - Quân và dân ta đập tan cuộc phản công chiến lược lần thứ hai 1966 - 1967 của địch với 895 cuộc hành quân, trong đó có 3 cuộc hành quân lớn “ tìm diệt” và “ bình định”, lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), loại khỏi vòng chiến đấu 68.000 quân Mĩ. 
 - Phong trào chống bình định, phá “ ấp chiến lược”diễn ra trên toàn miền Nam, do đó nhiều ấp chiến lược của Mĩ - Ngụy bị phá vỡ.
 - Các vùng giải phóng được mở rộng, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng có uy tín. 

 Dạy học theo năng lực hợp tác, hội nhập (hay còn gọi dạy học theo nhóm) thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới. Như vậy ta thấy dạy học theo nhóm nếu được chuẩn bị tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của học sinh.
* Phát triển năng lực sáng tạo( năng lực tư duy).
Trong dạy học theo năng lực sáng tạo cùng tham gia, giáo viên thường phải sử dụng câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh; học sinh cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và học sinh khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ. Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của học sinh càng nhiều; học sinh sẽ học tập tích cực hơn.
Ví dụ khi dạy mục 1: Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi như: Vì sao đến năm 1965, Mĩ lại chuyển sang chiến lược “ chiến tranh cục bộ”? Học sinh trả lời (Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.). Hay giáo viên đặt câu hỏi: Em hiểu thế nào về chiến lược “ Chiến tranh cục bộ”ở Việt Nam. Học sinh trả lời (“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội sài Gòn).
Hay giáo viên nêu câu hỏi: Mĩ thực hiện chiến lược “ Chiến tranh cục bộ” nhằm mục đích gì?(Với chiến lược “ Chiến tranh cục bộ” Mĩ âm mưu nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực, hỏa lực có thể đàn áp quân chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới “ tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ, hoặc rút lui về biên giới, làm cho chiến tranh tàn lụi dần. Như vậy, chúng ta thấy rằng, Mĩ trực tiếp nhảy vào cuộc chiến nhằm cứu quân đội Sài Gòn khỏi bị sụp đổ, tiếp tục thực hiện những mục tiêu của chủ nghĩa thhực dân mới ở miền Nam.
 Hoặc nêu câu hỏi: Để thực hiện mục đích đó, Mĩ đã có những thủ đoạn và hành động như thế nào?Học sinh theo dõi SGK trả lời (Dựa vào ưu thế quân sự, Mĩ cho cho quân mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ của Quân giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi) và mở liền hai cuộc phản công chiến lược mùa khô ( 1965 – 1966 và 1966 – 1967) bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào vùng “đất thánh Việt cộng”.
Hoặc giáo viên có thể nêu câu hỏi: Qua việc theo dõi đoạn phim tư liệu về việc Mĩ đổ quân vào Đà Nẵng và hình ảnh Mĩ - Ngụy mở cuộc hành quân “tìm diệt” vào vùng “đất thánh Việt Cộng” em có nhận xét gì về qui mô và tính chất ác liệt của chiến lược “ Chiến tranh cục bộ”? Học sinh hiểu được về qui mô và tính chất của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ác liệt hơn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở chỗ: Mĩ mở rộng đánh phá hai miền Nam - Bắc, đánh cả trên bộ, trên không và trên biển, nên cả nước có chiến tranh, cùng kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
 Khi dạy mục 2: Quân dân miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ ”của Mĩ, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Qua theo dõi phim tư liệu, kênh hình, SGK, bản đồ em hãy nêu rõ âm mưu của Mĩ trong mỗi cuộc hành quân?. Học sinh có thể trả lời về âm mưu của Mĩ qua mỗi cuộc hành quân: Thứ nhất là trong cuộc hành quân vào thôn Vạn Tường, Mĩ - Ngụy muốn “tìm diệt” và “bình định” vùng “đất thánh Việt Cộng”. Thứ hai, âm mưu của Mĩ khi mở cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất 1965 – 1966 là Mĩ - Ngụy tập trung “tìm diệt” Việt Cộng ở hai hướng chính là Đông Nam Bộ và Liên khu V, âm mưu đánh bại chủ lực quân giải phóng. Thứ ba, âm mưu của chúng khi mở cuộc phản công mùa khô làn thứ hai 1966 – 1967, Mĩ mở 895 cuộc hành quân mang tên Gianxơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta. Hoặc giáo viên có thể nêu câu hỏi: Qua theo dõi diễn biến trận Vạn Tường, em hãy rút ra ý nghĩa của chiến thắng Vạn Tường hoặc câu hỏi cùng với Vạn Tường, quân dân miền Nam còn giành được những thắng lợi nào trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ”của Mĩ?. Học sinh rút ra ý nghĩa của chiến thắng Vạn Tường: Chiến thắng Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc”đối với quân Mĩ, mở đầu cao trào “ Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam. Sau đó học sinh trả lời tiếp: Sau trận Vạn Tường, quân dân miền nam tiếp tục giành được thắng lợi trong hai mùa khô 1865 -1966 và 1966 – 1967, đập tan các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của địch. 
 Hay giáo viên có thể nêu câu hỏi nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh: Qua nghiên cứu những nội dung chính của hai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với “Chiến lược chiến tranh cục bộ”, em có nhận xét gì về lực tham gia chiến tranh, về âm mưu thủ đoạn, về quy mô của hai chiến lược?. Học sinh trao đổi thảo luận và trả lời: Thứ nhất về lực lượng tham gia: “Chiến tranh đặc biệt ” chủ yếu là quân đội Sài Gòn. Còn lực lương tham gia “Chiến tranh cục bộ” là quân Mĩ, quân đồng minh 5 nước, quân đội Sài Gòn. Thứ hai về âm mưu và thủ đoạn: Trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” lập ấp chiến lược. Còn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là “tìm diệt” và “bình định”. Thứ ba là về quy mô của chiến tranh: Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” chỉ diễn ra ở miền Nam. Còn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” có sự mở rộng về quy mô và lan rộng ra cả nước. Như vậy ta thấy chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ác liệt hơn “Chiến tranh đặc biệt” được thể hiện ở lực lượng tham chiến đông hơn và qui mô của nó mở rộng hơn cả ở miền Nam và mở rộng phá hoại ra miền Bắc.
 Hoặc giáo viên có thể nêu tiếp câu hỏi: Sau khi tìm hiểu về những nội dung chính trong hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 em có nhân xét gì về kết quả mà quân và dân ta đa dạt được? Học sinh theo dõi sách giáo khoa và bằng những kiến thức đã học các em trả lời câu hỏi: Mùa khô thứ nhất (trong 4 tháng trên toàn miền Nam, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 địch, trong đócó 42.000 quân Mĩ, 3.500 quân đồng minh, bắn rơi1.430 máy bay). Trong mùa khô thứ hai, trên toàn miền Nam, quân dân ta loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 địch, trong đó có 68.000 quân Mĩ, 5.500 quân đồng minh, bắn rơi 1.231 máy bay.
7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
9.1. Đối với giáo viên: 
	 Để dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học đối với bộ môn lịch sử nói chung và trong tiết dạy tiết 39 bài 22 “ Nhân dân hai miến trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)” nói riêng và giảng dạy môn Lịch sử nói chung có hiệu quả cao thì người giáo viên phải biết chọn lọc các năng lực học tập phù hợp với nội dung, đặc trưng của kiểu bài lên lớp và phải biết vận dụng một số phương pháp dạy học để các phương pháp đó có tác dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện tốt nội dung bài học và tổ chức các hoạt động của học sinh ở trên lớp một cách chủ động, linh hoạt. Đồng thời phải hướng dẫn học sinh biết cách khai thác nội dung kiến thức, sơ đồ, bảng biểu, nội dung sách giáo khoatrên mọi phương diện. Qua đó giúp các em có thể tự lực, tự làm chủ mọi kiến thưc, chủ động theo dõi, thực hiện việc ghi chép bài mới và được cùng tham gia bài giảng của giáo viên.
Người giáo viên cũng phải hiểu cặn kẽ và biết cách vận dụng đa dạng các năng lực dạy học, phải có sự kết hợp hài hoà giữa các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại, các phương pháp đó nó phải phù hợp với tình hình thực tiễn của việc dạy và học ở đơn vị mình.
9.2.Đối với học sinh:
Các em phải chuẩn bị trước bài ở nhà, qua việc nghiên cứu trước sách giáo khoa và tìm hiểu thêm các tranh ảnh có liên quan đến bài sắp học.
Khi học bài học sinh cần tích cực, mạnh dạn tham gia xây dựng bài, tích cực trao đổi thảo luận cùng các bạn trong nhóm dưới sự điều khiển của giáo viên.
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến tác giả hoặc theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến tác giả
- Qua việc chuẩn bị cho giờ dạy, GV có cơ hội nghiên cứu nhiều dạng năng lực riêng và năng lực chuyên biệt ,từ đó phát huy khả năng tư duy, sáng tạo cho bản thân.
- Qua các giờ dạy như vậy GV sẽ dần nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng mềm trong hoạt động dạy học cho bản thân như việc sử dụng máy tính, máy chiếu, các công cụ tin học văn phòng, điểu đó không chỉ giúp cho giờ học này đạt hiệu quả cao mà dần dần sẽ giúp bản thân giáo viên tự học hỏi thêm, tự tích lũy thêm kinh nghiệm để cho các bài học sau đó sinh động hơn, thú vị hơn và hiệu quả hơn.
- Khi soạn bài nhằm phát triển các năng lực cho học sinh sẽ giúp GV hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề đặt ra trong bài học. Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học trên nhiều khía cạnh nên tiết học sẽ sinh động, hấp dẫn hơn.
- Mặt khác qua giờ học còn giúp GV có những cơ sở định hướng trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử nói chung và dạy bài 22, lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)” nói riêng
Qua việc nghiên cứu và thực hiện sáng kiến: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua bài 22, lịch sử 12 - Tiết 39: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)” bản thân tôi thấy đã sáng tỏ được rất nhiều điều mà trước đây còn băn khăn. Trên cơ sở sáng kiến mình tôi thấy có thể áp dụng một cách có hiệu quả ở cả phần lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau. Với sự hạn hẹp của một sáng kiến trong quá trình thực hiện các phương pháp đưa ra chưa phải đã đầy đủ và hoàn chỉnh mà còn nhiều mặt hạn chế nhưng tôi hy vọng với sáng kiến của mình nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử ở Trường trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân nói riêng và dạy học lịch sử nói chung. Cuối cùng tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi ngày càng đạt hiệu quả và có tính ứng dụng cao.
10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
- Qua giờ học, học sinh tích cực chủ động lĩnh hội tri thức. Các em đã biết trình bày vấn đề lịch sử một cách rõ ràng, không rụt rè như trước. Không chỉ vậy, kĩ năng thực hành bộ môn được nâng lên, các em không còn lúng túng khi trình bày diễn biến hoặc sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Đặc biệt với những câu hỏi vận dụng hay liên hệ kiến thức đã học vào thực tiễn thì học sinh rất tích cực tư duy, trao đổi với bạn và tìm kiếm thông tin trên mạng Internet để đưa ra những ý kiến quan điểm của mình với những lập luận phù hợp.
- Như vậy, với việc dạy- học Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh, giáo viên đã giúp học sinh không chỉ biết mà còn hiểu và có khả năng vận dụng kiến thức lịch sử . Học sinh tích cực chủ động, không khí học tập rất sôi nổi. Học sinh không còn “ sợ học” , “ ngại học” lịch sử như trước mà mà có sự thay đổi lớn về nhận thức, các em đã yêu thích bộ môn sử hơn.
- Qua giờ học HS được tiếp cận nhiều với các phương tiện hỗ trợ dạy học, sẽ phát huy được khả năng nghiên cứu tài liệu, tổng hợp kiến thức, khai thác tranh ảnh, sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại (tư liệu, hình ảnh, máy chiếu, ).
 11.Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu
Qua quá trình nghiên cứu làm sáng kiến kinh nghiêm, qua áp dụng thực tế trong giảng dạy lich sử Việt Nam tiết 1của bài 22 “ Nhân dân hai miến trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)” ở lớp 12D2 trường trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân, tôi đã thử nghiệm kiểm tra 15 phút nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh với biện pháp so sánh kết quả học tập ở các lớp không sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học với các lớp có tiến hành việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh với kết quả như sau:
 Ở lớp 12D3, tôi dạy theo phương pháp dạy học truyền thống, lớp 12D2 tôi dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, kết quả đạt được như sau:
Lớp

Tổng 
 số
 Kết quả học tập 

Ghi 
chú
 Giỏi
 Khá
 Tb
 Yếu
 Kém
Tổng
số
%
Tổng
số
%
Tổng
số
%
Tổng
số
%
Tổng
số
%
12D3
 38
9
24
10
26
18
47
1
3
0
0

12D2
37
20
54
10
27
7
19
0
0
0
0


Như vậy qua kết quả đạt được từ thực tiễn giảng dạy chứng tỏ việc sử dụng một số phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh không những gây hứng thú học tập ở các em mà còn phát huy được năng lực, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử ở tiết 39 bài 22 “ Nhân dân hai miến trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)”. 
Vĩnh Tường, ngày 22 tháng 1 năm 2019
Thủ trưởng đơn vị/
Chính quyền địa phương
(Ký tên, đóng dấu)

Vĩnh Tường, ngày 22 thán 1 năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG 
SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
(Ký tên, đóng dấu)
Vĩnh Tường, ngày 22 tháng 1 năm 2019
Tác giả sáng kiến
(Ký, ghi rõ họ tên)
Đặng Hà Giang

File đính kèm:

  • docskkn_day_hoc_theo_dinh_huong_phat_trien_nang_luc_cua_hoc_sin.doc