SKKN Một số kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh khi học môn Lịch sử nói chung và học Bài 10 Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX - Lịch sử lớp 12

Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội đặt ra là phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Quốc hội trong những năm vừa qua toàn ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới, một trong những giải pháp trọng tâm của ngành vẫn phải là đổi mới phương pháp dạy học. Vận dụng các hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất theo yêu cầu của mục tiêu giáo dục là một trong những cách đổi mới thiết thực nhất.

Để thực hiện Nghị quyết của Đảng, của ngành GD&ĐT là phải đào tạo được thế hệ trẻ toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc. Đồng thời có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm, lập trường trước những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí của mọi vấn đề. Vì vậy, trong dạy học, việc tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh luận, phản biện vấn đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong cuộc sống là hết sức quan trọng. Thực hiện được nhiệm vụ đó cũng là góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy “chữ” với dạy “người”, lí thuyết phải gắn với thực hành. Việc phát triển được khả năng phản biện của học sinh trong quá trình học tập sẽ giúp học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện được khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, tự tin trước tập thể, trước các vấn đề nảy sinh của cuộc sống, xã hội.

doc 23 trang SKKN Lịch Sử 23/10/2025 270
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh khi học môn Lịch sử nói chung và học Bài 10 Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX - Lịch sử lớp 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh khi học môn Lịch sử nói chung và học Bài 10 Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX - Lịch sử lớp 12

SKKN Một số kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh khi học môn Lịch sử nói chung và học Bài 10 Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX - Lịch sử lớp 12
ản chất của toàn cầu hóa; những biểu hiện của toàn cầu hóa; đánh giá măt tích cực, tiêu cực của toàn cầu hóa.
 - Giáo viên cung cấp tư liệu cho học sinh, cho học sinh thảo luận những vấn đề sau:
 + Thời gian xuất hiện, bản chất của toàn cầu hóa.
 + Vì sao toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của sự phát triển?
 + Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.
 + Tác động của toàn cầu hóa đến các quốc gia và Việt Nam.
 + Toàn cầu hóa có thực sự gây ra nguy cơ mất bản sắc văn hóa dân tộc hay không? Vì sao?
 + Trong xu thế toàn cầu hóa theo em, Việt Nam cần phải làm gì để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức?
 TƯ LIỆU HỖ TRỢ 1
 1.“ Với sự xác lập của chủ nghĩa tư bản, nhất là khi hình thành thị trường thế giới, đã xuất hiện xu thế quốc tế hóa. Nhưng từ đầu những năm 80, đặc biệt từ những năm 90, người ta gọi đó là xu thế toàn cầu hóa. Các gọi khác nhau là có lí do: Quốc tế hóa là chỉ hoạt động kinh tế của một nước đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Và từ sau Chiến tranh lạnh, kinh tế thế giới toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ vói sự thúc đẩy to lớn của cuộc cách mạng kho học - công nghệ, nhất là tin học và công nghệ thông tin, đồng thời là xu thế phát triển đa cực hóa của cục diện thế giới. Nền kinh tế các nước phải đặt trong phạm vi lớn của thị trường thế giới. nên kinh tế các nước phải được đặt trong phạm vi lớn của thị trường thế giới, gắn liền ít nhất với ba yếu tơ: một là: thông tin hóa; hai là: thị trường hóa; ba là: xuyên quốc gia hóa sự lưu thông tự do của các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ mới”
 (Nguồn: Theo Phan Ngọc Liên, Vũ dương Ninh, Trần Bá Đệ.., 
 Lịch sử 12, Sách Giáo viên, NXB Giáo dục, tr 79.)
 2. “ Sáng 10/5, tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, ông Thomas L.Friedman - phụ trách chuyên mục đối ngoại của tờ Neww York Time, tác giả của cuốn Thế giới phẳng, đã có buổi trò chuyện cởi mở với sinh viên.
 Cũng trong buổi giao lưu tác giải cuốn sách nổi tiếng này cho rằng thế giới không chỉ “ phẳng” mà “ngày càng phẳng hơn”, Ông cho rằng điểm nổi bật nhất những năm đầu thế kỉ XXI chính là khái niệm toàn càu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin. Từ những chiếc máy tính cá nhân, điện thoại di động mọi người ở khắp nơi có thể kết nối với nhau. Các công cụ tìm kiếm, nhất là Google đã làm nên một thế giới phẳng. Và thế giới đã chuyển từ kết nối sang “ siêu kết nối”. Đây là bối cảnh tuyệt vời với những người biết thích ứng nhanh nhất là doanh nhân, thậm chí các nhà lãnh đạo phải đối diện với rất nhiều luồng thông tin, dư luận thế giới. Người lao động cũng vì thế ,mà nhiều cơ hội hơn nhưng cũng khắc nghiệt hơn. “ Tôi vẫn thường nói với con gái tôi rằng khi tốt nghiệp tôi phải đi xin việc làm, còn đến thời con thì phải tự tạo ra việc làm”.
 Trong bối cảnh đó, Ông cho rằng các trường Đại học phải biết đào tạo sinh viên thành một thế hệ không chỉ biết lắp ráp mà phải nghĩ giai đoạn cao hơn đó là thiết kế, sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao ở Việt Nam. Các sinh viên phải tự tạo ra cho mình những giá trị gia tăng độc đáo mới có thể tồn tại được trong thế giới ngày nay.
 Ông đưa ra lời khuyên cho các bạn sinh viên: tư duy như những người dân nhập cư - họ khao khát thành công, khao khát có thể lập nghiệp; tư duy như những người thợ thủ công - họ tạo ra giá trị thặng dư cho mình; tư duy nhưn những doanh nhân mới bắt đầu lập nghiệp - họ luôn luôn biết tái suy nghĩ và không ngừng học tập, thiết kế những sản phẩm dịch vụ mwois. Và cuối cùng hãy tư duy như những người phục vụ bàn - biết cần mẫn phục vụ.
 (Nguồn: tức/thời sự/ ngày 10/5/2014)
 3. Cách mạng khoa học - công nghệ
 Sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới ngày càng được tăng cường cùng với sự gia tăng của các phát minh, sáng chế khoa học - công nghệ và tốc độ ứng dụng chúng trong sản xuất và sinh hoạt của con người. Hơn nữa, cách mạng khoa
 Học công nghệ còn đẩy tới sự quốc tế hóa sâu sắc quá trình sản xuất và phân phối, dẫn tới sự hình thành và mở rộng hệ thống sản xuất và phân phối toàn cầu và sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước trên thế giới.
 Dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, tư duy và phương thức quan hệ giữa các nước, đặc biệt là giữa các trung tâm quyền lực lớn, đã và sẽ thay đổi rất đáng kể. Cách mạng khoa học công nghệ thay đổi tư duy của các nước về thế giới quan và chiến lược đối ngoại, thay đổi phương thức quan hệ giữa các nước và là động lực chính thúc đẩy nhanh sự thay đổi tương quan lực lượng giữa các quốc gia.
 4. Toàn cầu hóa.
 Cách mạng khoa học công nghệ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa là một cách mạnh mẽ, qua đó làm cho mọi mặt của đời sống xã hội được quốc tế hóa. Trong điều kiện toàn cầu hóa, lợi ích của các quốc gia đan xen với nhau và ngày càng tùy thuộc lẫn nhau. Từ đó, nhận thức về tinhfhinhf thế giới, tư duy về đối ngoại và phương thức quan hệ quốc tế cũng thay đổi mạnh mẽ.”
 ( Nguồn: Phạm Bình Minh, Cục diện thế giới đến 2020, 
 NXB Chính trị Quốc gia, 2010, tr.12 - 13)
 2.3. Đánh giá kết quả học tập
 - Học sinh giải thích được tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa:
 + Tích cực: thúc đẩy nhanh, mạnh sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế.
 + Hạn chế: làm trầm trọng thêm bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước, tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc
 - Học sinh rút ra được toàn cầu hóa vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với tất cả các nước đang phát triển.
 C. CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP
 1. Mục tiêu: Củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức mới mà học sinh đã được lĩnh hội về Các mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa.
 2. Phương thức:
 Giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thiện phiếu học tập theo kĩ thuật KWLH, vẽ sơ dồ tư duy bài học.
 3. Gợi ý sản phẩm:
 - Học sinh ghi những nội dung mình lĩnh hội được trong bài học vào cột L, và những nội dung mình có thể vận dụng được từ bài học vào cột W.
 Học sinh vẽ sơ đồ tư duy theo các nội dung: Nguồn gốc, thời gian ,đặc điểm, mặt tích cực, tiêu cực của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; toàn cầu hóa: thời gian, bản chất, những biểu hiện, tích cực và hạn chế của toàn cầu hóa
 D. DẶN DÒ, BÀI TẬP VỀ NHÀ
 - Học bài cũ, đọc bài mới, siru tầm tranh ảnh, tư liệu liên quan bài mới
 2.3.8. Một số điểm cần lưu ý khi phát triển tư duy phản biện cho học sinh thông môn Lịch sử ở trường THPT. 
 - Tư duy phản biện giúp học sinh trao đổi kiến thức lịch sử một cách chủ động, hiệu quả và chính xác. Khi đánh giá một ván đề học sinh phải có sự hiểu biết sâu sắc. Tuy nhiên để có được những kiến thức, hiểu biết đó, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh cách tìm tòi tài liệu, nguồn tài liệu. Qua quá trình tìm tòi, chọn lọc thông tin các em đã có những hiểu biết nhất định về các nhân vật, sự kiện, vấn đề. Những hiểu biết ấy sẽ được kiểm chứng, được xem xét đánh giá, được làm rõ hơn thông qua tranh luận với bạn bè, thầy cô.
 - Quá trình phát triển tư duy phản biện cho học sinh cần phải có thời gian, vì phải trải qua quá trình học sinh làm quen, biết cách sưu tầm tài liệu, xử lí thông tin, sắp xếp kiến thức tranh luận một cách hợp lí, logic, biết cách phản biện lại ý kiến của bạn bảo vệ ý kiến của mình Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có sự kiên trì, học sinh phải có thái độ hợp tác nhiệt tình, có chí tiến thủ, phải biết tự tin vào bản thân, tự tin trước tập thể.
 - Để phát triển được tư duy phản biện cho học sinh, đòi hỏi giáo viên cần phải có sự đầu tư thích đáng về công sức, thời gian, trí tuệ. Giáo viên muốn phát triển được tuy duy phản biaanj cho học sinh trước tiên giáo viên cần phải học hỏi, tìm tòi để có kiến thức sâu rộng thì mới giúp học sinh phản biện được. 
 - Để phát triển tư duy phan rbieenj cho học sinh ngày từ thời học sinh trung học phổ thông, đòi hỏi có sự đồng bộ của tất cả các môn. Không chỉ mình môn sử mà còn một số một cũng có nhiều ưu thế để phát triển tư duy phản biện cho học sinh như: Văn học, Địa lí, Toán học Vì vậy các bộ môn cần thường xuyên liên tục phát triển tư duy phản biện cho học sinh qua bài học của bộ môn mình.
 2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
 2.4.1. Đối tượng kiểm nghiệm:
 Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôi chọn 2 lớp 12 của Trường trung học phổ thông Triệu Sơn 3, cụ thể:
 - Học sinh ở lớp đối chứng: 12D7 (năm học 2018 – 2019)
 - Học sinh ở lớp thực nghiệm: 12D8 (năm học 2018 – 2019)
 Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu cho đề tài có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ học sinh, kết quả điểm trúng tuyển vào lớp 10, ý thức học tập của học sinh... đặc biệt là năng lực học tập và kết quả điểm kiểm tra môn Lịch sử trước khi tác động. Và một điểm đặc biệt hơn nữa đó là: hai lớp tôi chọn để đối chứng và thực nghiệm là hai lớp trường tôi phân là lớp cơ bản . 
 2.4.2. Cơ sở thực nghiệm:
 Sử dụng kết quả các bài kiểm tra trước và sau khi tác động, cụ thể như sau:
 + Tôi lấy kết quả bài kiểm tra 1 tiết học kì I, do nhóm chuyên môn chấm. 
 Lưu ý: Đề kiểm tra dùng để đánh giá hiệu quả của đề tài cho nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng giống nhau.
 2.4.3. Kết quả kiểm nghiệm:
Sau khi tổng hợp thông tin từ học sinh, tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh và đối chiếu kết quả điểm kiểm tra của học sinh, cho thấy:
 2.4.3.1. Về lí luận
 + Đã nâng cao được khả năng phản biện cho học sinh, giúp học sinh chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, biết cách xử lí tư liệu lịch sử.
 + Học sinh tự tin hơn khi trình bày quan điểm, hiểu biết của mình trước tập thể.
 + Đã góp phần thay đổi được thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học 
theo hướng tích cực trong môn Lịch sử..
 + Đã nâng cao được hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh.
 + Đã nâng cao được kết quả học tập môn Lịch sử cho học sinh.
 2.4.3.2 Về thực tiễn
 + Hiệu quả phát triển tư duy phản biện trong dạy học Lịch sử đã được nâng lên.
 + Tiết học sôi nổi, học sinh hứng thú và chủ động khai thác kiến thức.
 + 100% học sinh trong lớp đã được trang bị phương pháp để phát triển tư duy phản biện của mình.
 + 100% học sinh ý thức được việc cần phải tăng cường bồi dưỡng, phát triển tư duy phản biện.
 2.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm:
Lớp đối chứng 12D8.
Tổng số học sinh
Số bài
Điểm
0 - 2
3
4
5
6
7
8
9
10
 39
39
sl
0
2
2
13
19
2
1
0
0
%
0,0
5,1
5,1
33,3
48,9
5,1
2,5
0,0
0,0

 Lớp thực nghiệm 12D7.
Tổng số học sinh
Số bài
Điểm
0 - 2
3
4
5
6
7
8
9
10
 39
39
sl
0
0
0
4
14
12
7
2
0
%
0,0
0,0
0,0
10,2
36,1
30,7
17,9
5,1
0,0
 Như vậy, sau khi tổng hợp thông tin ta thấy như sau: Số học sinh nắm được bài học, biết các bước tiến hành bản biện cao hơn so với lới đối chứng. Cụ thể: Lớp thực nghiệm 12D7 số học sinh đạt từ 5 điểm trở lên là 100% trong đó có 2 điểm 9 ( 5,1%), lớp đối chứng 12D8 số học sinh đạt từ 5 điểm trở lên là 89,9% trong đó không có điểm 9. 
 Qua kết quả thực nghiệm về mức độ hiểu bài và nắm được cách thức tiến hành phát triển tư duy, tôi còn nhận thấy mức độ hứng thú học tập bộ môn của học sinh lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng là cao hơn thông qua bài kiểm tra trắc nghiệm nhanh.
 Về chuyển biến của các em trong hành động cụ thể, ý thức học tập và thực hiện các nội quy của lớp, trường, tham gia các hoạt động tập thể và giúp đỡ nhau trong học tập nhận thấy ngay sau mỗi tiết học. Thông qua việc quan sát và theo dõi của bản thân và kết hợp đối chiếu với theo dõi của nhà trường thì ở những lớp này số lượng học sinh ngại ngùng, e dè, tự ti trước tập thể giảm hơn so với trước, đặc biệt hơn là có rất nhiều học sinh tích cực, hăng hái trong các hoạt động tập thể nhất là trong tiết hoạt động ngoài giờ sáng thứ 2 hàng tuần.
 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
 3.1. Kết luận:
 Tư duy phản biện trang bị cho học sinh những kĩ năng cơ bản của tư duy để đưa ra những phán đoán thuyết phục. Trong quá trình giải quyết vấn đề của tư duy phản biện, học sinh phải thực hiện nhiều thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, lập luậnđó là những thao tác tư duy cần thiết trong học tập nói chung và trong cuộc sống nói riêng. Đồng thời khi có được tư duy phản biện, học sinh có được nhiều kĩ năng cơ bản cần thiết khác như khả năng giao tiếp tốt, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng phân tích và lập luận
 Những kĩ năng mà tư duy phản biện trang bị, không những giúp học sinh có thể đánh giá được nhận thức lịch sử của người khác mà còn có khả năng phán đoán và thông quá các kĩ năng có thể đưa ra được những suy luận hợp lí trên cơ sở những tư liệu xác thực.
 Tư duy phản biện góp phần hình thành nên những công dân có trách nhiệm xã hội trên nền tảng những nhận thức khoa học. 
 3.2. Đề xuất:
 + Về phía giáo viên cần phải có sự đầu tư tìm tòi, lựa chọn tư liệu, tranh ảnh sao cho phù hợp và phải có sự chắt lọc thông tin, cần có sự đầu tư đổi mới phương pháp giảng dạy.
  + Về phía nhà trường cần có sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa tới bộ môn, cung cấp trang thiết bị dạy học phù hợp, có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phương pháp dạy học mới cho giáo viên
   Trong quá trình áp dụng đề tài, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, bản thân tôi sẽ tiếp tục vận dụng, khắc phục những khiếm khuyết và bổ sung cho hoàn thiện hơn vào những năm học tới.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
        Xin chân thành cảm ơn!
 XÁC NHẬN 
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
 Thanh Hóa, ngày 15 tháng5 năm 2019
 CAM ĐOAN KHÔNG COPY
 Lê Thị Diệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử (NXBĐại học sư phạm).
2. Tài liệu liên quan đến phát triển tư duy phản biện.
3. Phương pháp dạy học môn Lịch sử (NXB Đại học sư phạm)
4. Sách giáo khoa lịch sử 11.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD & ĐT XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
TT
Tên đề tài sáng kiến
Cấp đánh giá xếp loại
Kết quả đánh giá xếp loại
Năm học đánh giá xếp loại
1
Một số kinh nghiệm về sử dụng sơ đồ tư duy trong bài 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)-Lớp 12- Cơ bản
Sở GD&Đt Thanh Hóa
C
2012-2013
2
Giáo dục ý thức bảo vệ biên giới, chủ quyền biển, hải đảo Tổ quốc cho học sinh trong phần hai: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX- Lớp 10 - chương trình cơ bản
Sở GD&Đt Thanh Hóa
B
2013-2014
3
Sử dụng kiến thức liên môn Địa lí, Giáo dục công dân, Văn học để giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954) – Lớp 12 Có bản
Sở GD&Đt Thanh Hóa
B
2014-2015
4
Một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực thi của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong kì thi THPT quốc gia qua dạy phần Lịch sử Việt Nam lớp12
Sở GD&Đt Thanh Hóa
C
2015-2016
5
Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn Lịch sử lớp 12 - Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1975, nhằm tăng cường giáo dục lòng yêu nước cho học sinh THPT
Sở GD&Đt Thanh Hóa
C
2017-2018

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_kinh_nghiem_nham_phat_trien_tu_duy_phan_bien_cho.doc