SKKN Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn Lịch sử lớp 12 - Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1975
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, liên tục, lâu dài của Đảng. Một trong những yêu cầu quan trọng của Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là phải làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong khi đó, thế hệ học sinh Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, nhân tố quan trọng góp phần quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên (trong đó có học sinh) và xác định “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Vì thế, bên cạnh việc coi trọng giáo dục chuyên môn, thì việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cho học sinh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm xây dựng đội ngũ trí thức tương lai vừa “hồng” vừa “chuyên”, kế tục các thế hệ cha anh trong sự nghiệp cách mạng mới là yêu cầu cơ bản lâu dài và cấp bách.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn Lịch sử lớp 12 - Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1975
hợp: Ý thức trách nhiệm với đất nước,tinh thần đấu tranh, tấm gương tận tuỵ vì cách mạng của Bác - BÀI 18: NHỮNG NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 -1950). - BÀI 20: CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP KẾT THÚC (1953-1954). - Mức độ tích hợp: + Qua khai thác IV - Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch biên giới Thu - Đông năm 1950. Khi dạy hai nội dung này, giáo viên chiếu hình ảnh Bác ra trận địa trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên giới và phân tích hình ảnh đó: Mặc dù bận trăm công nghìn việc của một Chủ tịch nước, nhưng do tính chất tối quan trọng của Chiến dịch Biên Giới, đầu tháng 9, Bác Hồ đã lên đường ra mặt trận để trực tiếp chỉ đạo, theo dõi và động viên các lực lượng tham gia Chiến dịch. Việc Người ra mặt trận làm cho mọi người càng thấm sâu ý nghĩa quan trọng của Chiến dịch sắp mở; là lời động viên mạnh mẽ nhất, xúc động nhất lan truyền trong sâu thẳm toàn thể đội ngũ dân công, bộ đội tham gia Chiến dịch. Với tác phong theo sát bước chân chiến sĩ, ngày 13-9, Bác rời Sở chỉ huy Chiến dịch đến mặt trận Đông Khê, trực tiếp theo dõi diễn biến và chỉ đạo trận mở màn Chiến dịch tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê tại đài quan sát Chiến dịch (ở đỉnh Ngườm Cuông, núi Báo Đông). Trong thư gửi các chiến sĩ ngày 6-10, Bác Hồ nhấn mạnh: “Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để giành lấy toàn thắng. Bác theo dõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ”. Như được tiếp thêm sức mạnh, bộ đội ta nhất tề xông lên tiêu diệt địch. sau 29 ngày đêm chiến đấu liên tục (từ ngày 16-9 đến ngày 14-10), chiến dịch Biên Giới kết thúc thắng lợi. Ta đã đánh và tiêu diệt gần 10 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 8.296 tên, bắt được toàn bộ ban chỉ huy hai binh đoàn Lơ Pa-giơ, Sác-tông và đồn Đông Khê; thu trên 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch; giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập. Hình ảnh Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 + Bài 18. và II - Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 - Bài 20. Khi dạy hai nội dung này, hình ảnh Bác cùng Bộ chính trị bàn kế hoạch đánh Pháp ở Điện Biên Phủ. Giáo viên phân tích: Cuối tháng 9 năm 1953, Bác Hồ chủ trì buổi họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Tỉn Keo, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên bàn về kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1953-1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về ý đồ táo tợn của tướng Pháp H. Nava là tập trung một lực lượng cơ động rất lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để khiêu chiến, làm tiêu hao chủ lực của ta, tạo điều kiện để giành quyền chủ động và tiến tới giành một thắng lợi quyết định trong vòng 18 tháng. Bác nghe chăm chú rồi nói: “Địch tập trung quân cơ động để tạo sức mạnh Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn” (Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, tập 5, tr.399). Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng. Theo tư tưởng chỉ đạo ấy, ta đã nghiên cứu kế hoạch Đông Xuân, cho những bộ phận chủ lực của ta tiến về 5 hướng chiến lược nhằm những nơi hiểm yếu và tương đối yếu của địch, chọn hướng chính là Lai Châu ở Tây Bắc. Ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được” Ngày 1/1/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị, chỉ định cơ quan lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch, triển khai kế hoạch điều động lực lượng lên Tây Bắc. Khi giao nhiệm vụ cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Người nói: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, Tướng quân tại ngoại! Trao cho chú toàn quyền quyết định. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Hình ảnh Bác Hồ cùng Bộ chính trị bàn kế hoạch tác chiến trong Đông - Xuân 1953 - 1954 Hình ảnh Bác Hồ cùng Bộ chính trị bàn kế hoạch tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 Qua đó giáo viên làm rõ cho học sinh hiểu tấm gương tận tụy vì cách mạng của Bác, nhằm giáo dục ý thức trách nhiệm của học sinh với đất nước, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay. 2.3.6.6. Chủ đề tích hợp: Ý thức trách nhiệm với Đảng với dân, tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước. - BÀI 22: NHÂN DÂN HAI MIỀN TRỰC TIẾP CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC.. (1965 – 1973) - Mức độ tích hợp: - Giáo viên liên hệ với những tuyên bố của Bác khi Mĩ leo thanh bắn phá miền Bắc, với di chúc thiêng liêng cúa Bác. Cụ thể: Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cực kỳ nghiêm trọng. Năm 1965 Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc nước ta với dã tâm “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”. Ngày 18-3-1965, Mỹ bắt đầu đổ quân vào Đà Nẵng, chính thức mở cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, chuyển cuộc chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ. Trong tình hình đó, bạn bè gần xa đều lo lắng cho Việt Nam, có người không tin Việt Nam có thể giành thắng lợi trong cuộc đụng đầu lịch sử hoàn toàn không cân sức với Mỹ. Nhưng Di chúc Bác đã khẳng định quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; khẳng định chiến thắng tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.” “Dù khó khăn gian khổ đến mấy nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.” Không chỉ thế, bản Di chúc còn gửi gắm những lời căn dặn của Bác cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc đi xa, trong đó cho đến khi sắp nhắm mắt, xuôi tay Bác vẫn đau đáu nỗi niềm vì nước, vì dân “ Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.” Qua đây, giáo viên giúp học sinh hiểu được sự thiên tài của Bác trong việc dự đoán tình hình cách mạng, đồng thời thấy được tình yêu quê hương đất nước vĩ đại của Bác, để từ đó biết trân trọng những cống hiến của Bác hơn nữa đối với đân tộc. Hình ảnh bản Di chúc của Bác Hồ. 2.3.6.7. Chủ đề tích hợp: Sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. - BÀI 17. NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TRONG NĂM ĐẦU TIÊN SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM.. - Mức độ tích hợp: Khi dạy đến những thuận lợi của nước ta sau cách mạng tháng 8/1945, giáo viên phân tích tư tưởng của Bác về vai trò của quần chúng nhân dân “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó van lần dân liệu cũng xong.”, từ đó học sinh thấy được vai trò to lớn về sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, học sinh biết trân trọng hơn những đóng góp của cha ông cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hình ảnh Bác Hồ với nhân dân. 2.3.7. Một số điểm cần lưu ý khi lồng ghép giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử lớp 12 - Phần lịch sử Việt nam từ 1919 đến 1975: + Không tách riêng nội dung giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. + Bám sát chương trình môn học, lồng ghép phù hợp trong từng bài học cụ thể. + Kết hợp hài hòa các loại phương tiện dạy học, các loại bài học. + Chú ý tới việc bổ sung tư liệu, làm phong phú và sinh động bài học + Hình thành cho học sinh kĩ năng tự học, thảo luận nhóm, sưu tầm tư liệu, thuyết trình. + Đảm bảo tính phù hợp với đặc trưng môn học, với khả năng của học sinh. 2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường. 2.4.1. Đối tượng kiểm nghiệm: Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôi chọn 2 lớp 12 của Trường trung học phổ thông Triệu Sơn 3, cụ thể: - Học sinh ở lớp đối chứng: 12C7 (năm học 2017 – 2018) - Học sinh ở lớp thực nghiệm: 12C8 (năm học 2017 – 2018) Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu cho đề tài có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ học sinh, kết quả điểm trúng tuyển vào lớp 10, ý thức học tập của học sinh... đặc biệt là năng lực học tập và kết quả điểm kiểm tra môn Lịch sử trước khi tác động. Và một điểm đặc biệt hơn nữa đó là: hai lớp tôi chọn để đối chứng và thực nghiệm là hai lớp trường tôi phân là lớp cơ bản . 2.4.2. Cơ sở thực nghiệm: Sử dụng kết quả các bài kiểm tra trước và sau khi tác động, cụ thể như sau: + Tôi lấy kết quả bài bài thu hoạch cuối tiết 33, do nhóm chuyên môn chấm. Lưu ý: Đề kiểm tra dùng để đánh giá hiệu quả của đề tài cho nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng giống nhau. 2.4.3. Kết quả kiểm nghiệm: Sau khi tổng hợp thông tin từ học sinh, tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh và đối chiếu kết quả điểm kiểm tra của học sinh, cho thấy: 2.4.3.1. Về lí luận + Đã nâng cao được hiểu biết cho học sinh về tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh. + Đã nâng cao được ý thức hcoj tập và làm theo tấm gương đạo đức Hò Chí Minh cho học sinh nhà trường. + Đã góp phần thay đổi được thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong môn Lịch sử.. + Đã góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh. + Đã nâng cao được hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh. + Đã nâng cao được kết quả học tập môn Lịch sử cho học sinh. 2.4.3.2 Về thực tiễn + Hiệu quả lồng ghép giáo dục chủ quyền biên giới, biển, hải đảo trong dạy học đã được nâng lên. + Tiết học sôi nổi, học sinh hứng thú và chủ động khai thác kiến thức. + 100% học sinh trong lớp đã được trang bị thêm hiểu biết tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. + 100% học sinh ý thức được việc cần phải tăng cường tự rèn luyện, học tập theo tấm gương đạo đức của Bác. 2.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm: Lớp đối chứng 12C8. Tổng số học sinh Số bài Điểm 0 - 2 3 4 5 6 7 8 9 10 39 39 sl 0 2 2 13 19 2 1 0 0 % 0,0 5,1 5,1 33,3 48,9 5,1 2,5 0,0 0,0 Lớp thực nghiệm 12C7. Tổng số học sinh Số bài Điểm 0 - 2 3 4 5 6 7 8 9 10 39 39 sl 0 0 0 4 14 12 7 2 0 % 0,0 0,0 0,0 10,2 36,1 30,7 17,9 5,1 0,0 Như vậy, sau khi tổng hợp thông tin ta thấy như sau: Số học sinh nắm được bài học, nắm được nội dung tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh cao hơn so với lới đối chứng. Cụ thể: Lớp thực nghiệm 12C7 số học sinh đạt từ 5 điểm trở lên là 100% trong đó có 2 điểm 9 ( 5,1%), lớp đối chứng 12C8 số học sinh đạt từ 5 điểm trở lên là 89,9% trong đó không có điểm 9. Qua kết quả thực nghiệm về mức độ hiểu bài và nắm được nội dung tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tôi còn nhận thấy mức độ hứng thú học tập bộ môn của học sinh lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng là cao hơn thông qua bài kiểm tra trắc nghiệm nhanh. Về chuyển biến của các em trong hành động cụ thể, ý thức học tập và thực hiện các nội quy của lớp, trường, tham gia các hoạt động tập thể và giúp đỡ nhau trong học tập nhận thấy ngay sau mỗi tiết học. Thông qua việc quan sát và theo dõi của bản thân và kết hợp đối chiếu với theo dõi của nhà trường thì ở những lớp này số lượng học sinh vi phạm khuyết điểm giảm hơn so với trước, đặc biệt hơn là có rất nhiều học sinh tích cực, hăng hái trong các hoạt động tập thể. 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 3.1. Kết luận: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh gồm nhiều bộ phận, trong đó tư tưởng đạo đức có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đang là một cuộc vận động chính trị sâu rộng trong quần chúng. Vì vậy, trang bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết, cơ bản về đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó các em có được nhận thức, thái độ và hành vi tích cực theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm hết sức thiết thực. Trước yêu cầu đó, đòi hỏi tất cả các giáo viên nói chung và giáo viên giảng dạy môn Lịch sử nói riêng phải có sự cố gắng trong việc tự tìm hiểu và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để nâng cao sự hiểu biết của mình về tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, giúp cho việc tích hợp tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào từng nội dung, từng bài học một cách thuận lợi và có hiệu quả hơn. Đây cũng chính là yêu cầu cần thiết đối với mỗi giáo viên trong việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm cũng như đạo đức nghề nghiệp của bản thân. Để việc tích hợp đạt hiệu quả như mong muốn, đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn chủ đề, nội dung tích hợp phù hợp, biết tích hợp một cách linh hoạt cho từng nội dung cụ thể. Đồng thời phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện dạy học hợp lí, khoa học. Qua quá trình tiến hành dạy học tích hợp tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung chương trình Lịch sử lớp 12- Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1975 theo các yêu cầu nêu trên đã đem lại kết quả khả quan. Tôi nhận thấy giáo viên cần hiểu rõ mục đích cũng như phương pháp và nội dung của việc tích hợp tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào chương trình môn Lịch sử thì việc tích hợp sẽ rất dễ dàng và đem lại hiệu quả giáo dục cao. Mỗi giáo viên cần có tâm huyết với việc giảng dạy nói chung và với việc tích hợp tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng để làm cho bài học thêm gần gũi hơn với học trò, giờ học phong phú, sinh động và có sức cuốn hút hơn, góp phần làm thay đổi được nhận thức của học sinh và những người xung quanh về vị trí và tầm quan trọng của môn học. 3.2. Đề xuất: + Về phía giáo viên cần phải có sự đầu tư tìm tòi, lựa chọn tư liệu, tranh ảnh sao cho phù hợp và phải có sự chắt lọc thông tin, cần có sự đầu tư đổi mới phương pháp giảng dạy. + Về phía nhà trường cần có sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa tới bộ môn, cung cấp trang thiết bị dạy học phù hợp, có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về học tập và làm theo tấm gương, đạo đức của Hồ Chí Minh + Thường xuyên tổ chức cho học sinh và giáo viên kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong quá trình áp dụng đề tài, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, bản thân tôi sẽ tiếp tục vận dụng, khắc phục những khiếm khuyết và bổ sung cho hoàn thiện hơn vào những năm học tới. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25 tháng5 năm 2018 CAM ĐOAN KHÔNG COPY Lê Thị Diệp TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cuộc đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên 2. Búp sen xanh ( Sơn Tùng) 3. Kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh 4. Tác phẩm văn của chủ tịch Hồ Chí Minh( Hà Minh Đức) 5. Các chuyên đề về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh(Nxb chính trị quốc gia) 6. Các tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Bác 7. Sách giáo khoa lịch sử 12. 8. Bài giảng về Bác của GS. Hoàng Chí Bảo
File đính kèm:
skkn_mot_so_kinh_nghiem_tich_hop_giao_duc_tu_tuong_dao_duc_h.doc

