SKKN Vận dụng kiến thức liên môn Văn - Sử - Địa - Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) - (Lịch sử 12, chương trình chuẩn)

1. Lí do chọn đề tài.

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần XI của Đảng đã xác định: " Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế" và " phát triến nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân..." Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân trong đó có đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng kiến thức liên môn, tích hợp kiến thức nhiều môn học khác nhau trong dạy học là một định hướng lớn của Đảng và Nhà nước. Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, có thể khơi dậy sự hứng thú của học sinh trong học tập, phát huy tính tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức của các em, nhờ đó, có tác dụng quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Thực hiên chủ trương trên của Đảng, ngành giáo dục Thanh Hóa nói chung, trường THPT Lê Lợi nói riêng đã và đang nỗ lực tiến hành đổi mới giáo dục sâu rộng, trong đó then chốt là đổi mới hình thức, phương pháp dạy học ở tất cả các bộ môn.

Nói về môn Lịch sử, trong nhiều năm qua, thực trạng của việc dạy và học Lịch sử trong nhà trường phổ thông còn những tồn tại: nội dung của nhiều bài lịch sử rất khô khan, có quá nhiều sự kiện nên chưa tạo được hứng thú học Lịch sử đối với học sinh. Học sinh hiểu một cách rời rạc, nông cạn về kiến thức lịch sử, không nắm được mối liên hệ hữu cơ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội, về kiến thức liên môn…

doc 21 trang SKKN Lịch Sử 23/10/2025 350
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Vận dụng kiến thức liên môn Văn - Sử - Địa - Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) - (Lịch sử 12, chương trình chuẩn)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng kiến thức liên môn Văn - Sử - Địa - Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) - (Lịch sử 12, chương trình chuẩn)

SKKN Vận dụng kiến thức liên môn Văn - Sử - Địa - Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) - (Lịch sử 12, chương trình chuẩn)
g trận từ Tây Bắc truyền về , trong niềm hân hoan, vui mừng tột độ, nhà thơ Tố Hữu đã cầm bút ứng tác ngay nên những vần thơ ngợi ca chiến thắng in sâu vào tâm trí người đọc nhiều thế hệ:
  Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
 Chiến sĩ anh hùng
 Đầu nung lửa sắt
 Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, 
 ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
 Máu trộn bùn non
 Gan không núng
 Chí không mòn... 
 - Sau chiến thắng ngày 7/ 5/ 1954, ngày 12/ 5/ 1954, Báo Nhân dân đăngbài thơ: " Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ "của Hồ Chí Minh
 20 tháng 11 năm cũ,
 Giặc Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ.
 Hăm mốt tiểu đoàn tinh nhuệ nhất,
 Xe tăng, súng lớn đầy chồng chất.
 Chúng khoe rằng: "Kế hoạch Na-va
 Thật là mạnh dạn và tài hoa...
 Bên ta thì: Bộ đội, dân công quyết một lòng,
 Xẻ non, đắp suối, vượt qua sông,
 Khắc phục khó khăn và hiểm trở;
 Đánh cho giặc tan mới hả dạ;
 - Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 6 năm, nhà thơ Xuân Diệu trong một lần thăm Điện Biên, khi qua mộ anh hùng Bế Văn Đàn đã cảm tác làm nên bài thơ Mộ Bế Văn Đàn. Trước anh linh người đã hi sinh cho ngày chiến dịch toàn thắng, Xuân Diệu hồi tưởng lại chiến công của anh:
   Nơi đây mộ Bế Văn Đàn 
 Thân làm giá súng, thân làm cành xuân
 Đang khi trận địa gian truân
 Vai khiêng núi lửa diệt quân bạo tàn
 Quân ta cờ thắm khải hoàn 
 Mà người chiến sĩ đã tàn thịt xương...
 - Nhân dịp kỉ niệm 24 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, khi đặt chân lên mảnh đất “huyền thoại”, nhà thơ Anh Ngọc xúc động viết bài thơ Trở lại Điện Biên – lá cờ và ngọn cỏ với những câu thơ đầy suy ngẫm : 
 Anh đã đi qua hơn hai mươi năm 
 Để gặp lại tuổi thơ mình náo nức
 Nghe tiếng bom và đại bác
 Gầm lên từ trang sách học trò...
 Những khúc ca, bài thơ viết về chiến dịch Điên Biên Phủ đã vẽ nên tầm vóc lịch sử của chiến dịch, ngợi ca quân đội anh hùng và dân tộc Việt Nam anh hùng trong kháng chiến đòi quyền tự do thiêng liêng. Dù hơn 60 năm đã trôi qua, nhưng chúng ta tin rằng Điện Biên Phủ mãi là niềm tự hào, là cảm hứng cho lớp lớp thế hệ nhà văn Việt Nam sáng tác nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và sức sống lâu bền trong lòng công chúng.
  III. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
- Mục này, GV yêu cầu HS tự tóm tắt nội dung, ý nghĩa Hiệp định
 - GV chỉ trình chiếu hình ảnh sau và khẳng định: Để đạt được kết quả trên, dân tộc ta đã phải trải qua một hành trình vô cùng gian lao, bề bỉ. Đó cũng là cuộc đấu lí, đấu trí không kém phần gay go, quyết liệt trên bàn đàm phán của dân tộc ta.
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu (phải) và tướng Pháp 
Đen-thây (trái) ký Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7/1954
	IV. Nguyên nhân thắng lợi ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp( 1955- 1954)
 * Ở mục này, kiến thức SGK không đòi hỏi nhiều thời gian, HS tự tìm hiểu.
 * Giáo viên giao nhiệm vụ cho HS nhóm 3: Trình bày kết quả công việc đã được giao: Sưu tầm những nhân xét đánh giá của các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ ta cũng như các học giả, báo chí nước ngoài. 
 - Trong cuốn hồi ký Đông Dương hấp hối, Chính tướng Nava viết: "Sự lãnh đạo khôn khéo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng sức mạnh "không thể ngờ" của dân tộc Việt Nam, đã làm cho quân Pháp không tránh khỏi một kết cục thảm bại".
 - Howards R.Simpson, thành viên phái đoàn ngoại giao Mỹ ở Đông Dương, đã đưa ra những nhận định rất thú vị trong cuốn  Điện Biện Phủ - Cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi. Ông nhận xét Việt Minh, với sức mạnh "siêu nhân", đã đẩy được những khẩu đại bác lên các đỉnh núi cao và dễ dàng bao quát được quân Pháp - những kẻ "ngốc nghếch" đã triển khai quân trong một thung lũng.
 - PGS, TS. Musiychuk Victoria (Viện Nghiên cứu Phương Đông, Viện Hàn lâm Khoa học U-crai-na) "Chiến thắng Điện Biên Phủ là mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Sự kiện này không chỉ giúp Việt Nam thoát khỏi áp bức của thực dân Pháp mà còn mở ra con đường để giành độc lập cho cả Đông Dương và các nước thuộc địa ở châu Phi"
 - S. Seung-Kyun KO (Đại học Hawaii Pacific, Hoa Kỳ): Trận Điện Biên Phủ đã đem lại cho Việt Nam niềm tin tuyệt đối vào con đường đấu tranh giành độc lập.
 - PGS, TS. Christian C.Lentz (Đại học North Carolina Chapel Hill, Hoa Kỳ): Trận Điện Biên Phủ đã làm thay đổi thế giới. Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh bại thực dân Pháp. Chiến thắng góp phần khích lệ và củng cố vị thế của Việt Nam trong các cuộc đàm phán ngoại giao, ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ ... 
 - Nói về chiến thắng Điện Biên Phủ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi ghi dấu trong biên niên sử cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc ta và của tất cả các dân tộc bị đàn áp trên toàn thế giới. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người cựu giáo viên lịch sử này đã đóng góp thêm một chương sách về “cuộc đấu tranh của chúng tôi” vào biên niên sử thế giới hiện đại".
 - Cố Tổng bí thư Lê Duẩn cũng nhận định: " Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi được ghi vào lịch sử đân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa giữa thế kỉ XX, đi vào lịch sử nhân loại như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch của chủ nghĩa thực dân."
 (Trích"Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do..."
 3/ Sơ kết bài học :
 Phần sơ kết bài học, tôi giao nhiệm vụ cho học sinh nhóm 4 thực hiện bằng việc giới thiệu khái quát toàn bài qua các tranh, ảnh mà các em đã sưu tầm, sắp xếp do GV hướng dẫn và kiểm tra trước. 
Một góc Thành phố Điện Biên hôm nay. 
Đại tướng- Tổng tư lệnh về thăm bà con và chiến trường xưa
 * Đến đây, sau khi hoàn thành nội dung bài dạy, giáo viên chốt ý
 - Điện Biên hôm nay đã thay da đổi thịt, trở thành một thành phố năng động, xứng tầm với chiến công "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"của các thế hệ cha ông đi trước. 
 - Cuối cùng tôi đưa ra câu hỏi vận dụng và vận dụng cao, yêu cầu HS hoàn thành ở nhà. Với câu hỏi này, tôi muốn vận dụng kiến thức các môn, nhất là môn Giáo dục công dân, góp phần giáo dục, tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm của HS đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội.
 + Câu 1: Qua bài học, em hãy phân tích vai trò lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945- 1954?
 + Câu 2: Vai trò của Đại tướng- Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ?
 + Câu 3: Từ bài học, em hãy cho biết suy nghĩ và trách nhiệm của bản thân khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường?
 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
 Căn cứ vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tiến hành thực nghiệm ở hai lớp 12A1 và 12A6 trường THPT Lê Lợi vào thời gian tháng 12 năm 2017, theo giáo án đề tài.
 Hai lớp làm đối chứng là 12A2 và 12A3, tôi vẫn sử dụng và tiến hành theo giáo án thông thường của phân phối chương trình và theo thời khóa biểu do nhà trường sắp xếp. 
 Để khẳng định chất lượng của bài giảng theo giáo án SKKN: Vận dụng kiến thức liên mônVăn- Sử- Địa- Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc 
(1953- 1954) - Lịch sử lớp 12- cơ bản, tôi tiến hành ở hai phương diện:
 * Thứ nhất: Đánh giá mức độ hứng thú, sự yêu thích bộ môn Lịch sử của học sinh.
 * Thứ hai: Đánh giá kết quả học tập của học sinh sau bài học bằng bài kiểm tra viết 1 tiết.
 Ở phương diện thứ nhất: Tôi tiến hành làm phiếu trắc nghiệm nhanh, yêu cầu HS trả lời bằng cách đánh dấu tích vào cột thích hay không thích môn Lịch sử. Tôi được kêt quả như sau:
Lớp
Tổng số

Thích

Không thích
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
12A1
(42)
33
78,6%
9
21,4%
12A6
(42)

34
80,9%
8
19,1%
12A2
(44)
17
38,6%
27
61,4%
12A3
(44)
16
36,4%
28
63,6%
 Từ bảng kết quả thực nghiệm trên cho thấy: 
 + Tổng số HS ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 84 HS
 + Tổng số HS ở 2 lớp đối chứng 12A5 và 12A8 là 88 HS
 Như vậy, tổng số HS 2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng có sự chênh lệnh không đáng kể (04 em). Nhưng sự chênh lệch giữa các lớp thực nghiệm và đối chứng như sau:
 + Số HS thích ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 67 HS chiếm 79,8 %
 + Số HS thích ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 chỉ là 33 HS chiếm 37,5 %
 + Số HS không thích ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 17 HS chiếm 20,2 %
 + Số lượng HS không thích ở 2 lớp đối chứng 12A5 và 12A8 là 55HS chiếm 62,5%.
 Kết quả này cho thấy, nếu GV vận dụng, kết hợp kiến thức nhiều môn học trong bộ môn Lịch sử, thay đổi cách soạn bài cũng như cách tổ chức dạy học, giao công việc cho học sinh để các em chủ động phát huy năng lực tực học, tự lĩnh hội kiến thức sẽ có tác dụng không nhỏ trong việc lôi cuốn, tạo hứng thú và sự ham thích môn Lịch sử ở học sinh. 
 Ở phương diện thứ hai: Tôi cho học sinh làm bài kiểm tra viết 1 tiết, cùng đề, cùng ở trong một buổi học, hơn nữa, để đánh giá một cách khách quan kết quả thực hiện đề tài, tôi cho hai lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 làm trước. Hai lớp đối chứng là 12A2 và 12A3 làm bài sau, và cũng không có hiện tượng biết đề (tức là không lộ đề), để đảm bảo công bằng. Kết quả tôi thu được sau khi làm tròn điểm số như sau: 
Lớp
Tổng số
Giỏi
Điểm 9- 10
Khá
Điểm 7- 8
TB
Điểm 5- 6
Yếu
Điểm 4- <5
Kém
Điểm 1- 3
Số
lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
12A1
(42)
14
33,3
20
47,6
8
19,1
0
0
0
0
12A6
(42)

15
35,7
20
47,6
7
16,7
0
0
0
0
12A2
(44)
5
11,4
13
29,5
22
50,0
4
9,1
0
0
12A3
(44)
4
9,1
15
34,1
22
50,0
3
6,8
0
0
 Từ bảng kết quả thực nghiệm trên cho thấy: 
 + Số HS đạt giỏi ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 29 HS chiếm 34,5%
 + Số HS đạt giỏi ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 là 9 HS chiếm 10,2%
 + Số HS đạt khá ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 40 HS chiếm 47,6%
 + Số HS đạt khá ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 là 28 HS chiếm 31,8%
 + Số HS đạt TB ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 15 HS chiếm 17,9%
 + Số HS đạt TB ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 là 44 HS chiếm 50,0%
 + Số HS đạt Yếu ở 2 lớp thực nghiệm12A1 và 12A6 là 0 HS, chiếm 0%
 + Số HS đạt Yếu ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 là 7 HS, chiếm 8, 0%
 + Số HS đạt Kém ở 2 lớp thực nghiệm 12A1 và 12A6 là 0 HS, chiếm 0%
 + Số HS đạt Kém ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 là 0 HS, chiếm 0% 
 Kết quả trên cho thấy:
Chất lượng 2 lớp dạy thực nghiệm 12A1 và 12A6 cao hơn 2 lớp đối chứng 12A2, 12A3 ở điểm khá- giỏi rất nhiều, nhưng lại thấp hơn ở điếm TB. 
 Đặc biệt, ở 2 lớp dạy thực nghiệm 12A1 và 12A6 không có học sinh Yếu, trong khi đó ở 2 lớp đối chứng 12A2 và 12A3 còn chiếm tới 8% Yếu 
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
 1. Kết luận: 
 Qua thực hiện đề tài Vận dụng kiến thức liên môn Văn- Địa- Giáo dục công dân vào giảng dạy Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc( 1953- 1954) - Lịch sử 12, chương trình cơ bản, Tôi rút ra cho bản thân một số kết luận sau:
 Việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử là hết sức cần thiết, bởi từ kiến thức của các môn học liên quan như Văn, Địa, GDCD... giáo viên có thể làm giảm bớt đi sự khô khan, nhàm chán của các sự kiện, giảm sự căng thẳng trong giờ học lịch sử, thậm chí có thể rút gọn lượng thời gian của một số nội dung trong bài mà vẫn đạt hiệu quả theo yêu cầu bài học.
 Thứ hai, vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khích thích năng lực tự học, tự tìm hiểu và lĩnh hội tri thức của học sinh. Nhờ vậy, nó có khả năng khơi dậy niềm đam mê hứng thú, sự yêu thích môn học hơn cho học sinh, qua đó, góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em. Có như thế, các em mới không thờ ơ, coi thường và không quay lưng lại với bộ môn lịch sử. 
 Thứ ba, sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử cũng có tác dụng giúp các em củng cố và mở rộng kiến thức ở nhiều môn học khác, trên cơ sở đó góp phần làm đa dạng và phong phú thêm vốn kiến thức cũng như sự hiểu biết của bản thân.
 Và cuối cùng, khi các em đã ham thích học môn Lịch sử, chúng ta sẽ hoàn thành mục tiêu giáo dưỡng, xây dựng nhân cách, đạo đức, tác phong sinh hoạt. Từ đó, học sinh biết trân trọng quá khứ, biết ơn về sự hi sinh xương máu của cha ông, biết sống có trách nhiệm với Tổ quốc, với gia đình và những người xung quanh.
 Tuy nhiên, đây mới chỉ là ý chủ quan đề xuất của bản thân tôi, nội dung còn sơ lược rất mong sự đóng góp xây dựng của các đồng chí giáo viên trong Tổ chuyên môn và các đồng chí giáo viên Ngữ Văn, Địa Lí, GDCD, GDQP,Tin học... để tài SKKN được hoàn thiện hơn, góp phần vào việc xây dựng chủ đề tích hợp trong dạy học Lịch sử nói riêng và các môn học khác nói chung của chương trình giáo dục THPT.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp!
  2. Những kiến nghị.
Để thực hiện nhiệm vụ "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân" trong đó có đổi mới phương pháp dạy học, thì việc sử dụng kiến thức liên môn là cầ thiết. Để tạo thuận lợi cho giáo viên, tôi thiết nghĩ Bộ giáo dục cần có những công trình nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về : “Vận dụng kiến thức liên môn " làm cơ sở để giáo viên chúng tôi tham khảo. 
Giáo viên cần có nhiều diễn đàn để trao đổi, bàn bạc, tìm giải pháp có hiệu quả cho vấn đề này. 
Sách giáo khoa không nên biên soạn theo kiểu là nguồn thông báo kiến thức mà phải là tài liệu làm việc của học sinh. Nghĩa là sách cần cung cấp nhiều tài liệu lịch sử, để trên cơ sở đó, giáo viên có thể xây dựng hoặc tổ chức các hoạt động lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thức nhiều môn học trong một môn học. 
Giáo viên cần không ngừng tự học, tự nghiên cứu bồi dưỡng, bổ sung kiến thức cần thiết của các môn liên quan. Vởi môn Lịch sử, có nhiều khả năng vận dụng kiến thức các môn Văn- Địa -GDCD, Tin học, do đó giáo viên dạy Sử phải tự bổ sung thêm .
Giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và kĩ thuật dạy học, cần chuẩn bị chu đáo ở mỗi bài học, giao việc cho học sinh cụ thể để giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức. Có như vậy, môn Lịch sử mới không còn khô khan, việc dạy và học Lịch sử mới không còn là hoạt động đọc, chép của thầy và trò nữa. 
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
 Thanh hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
 Người viết
 Trịnh Thị Hoài

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
2 Sách giáo viên Lịch sử lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
3. Sách giáo khoa Văn học lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
5 Sách giáo viên Văn học lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
5. Sách giáo khoa Địa lí lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
6 Sách giáo viên Địa lí lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
 7. Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III
8. Sách giáo khoa Giáo dục công dân lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
2 Sách giáo viên Giáo dục công dân lớp 12- cơ bản, NXB Giáo dục
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐẠT
TT
Tên đề tài
Cấp đạt
Năm học
Xếp loại
 1
Dạy tiết Lịch sử địa phương: Lê Lợi và căn cứ Lam Sơn tại thực địa khu di tích Lam Kinh Thọ Xuân - Thanh Hóa

Cấp SGD&ĐT

2006- 2007

C
 2
Vận dụng kiến thức liên môn Văn- Sử- Địa- GDCD vào dạy Bài 23: " Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam( 1973- 1975)

Cấp SGD&ĐT

2014- 2015

C

File đính kèm:

  • docskkn_van_dung_kien_thuc_lien_mon_van_su_dia_giao_duc_cong_da.doc