SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945 nhằm kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12 THPT ban cơ bản
hội không có bộ môn nào giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí phấn đấu và rèn luyện nhân cách cho thanh niên bằng bộ môn Lịch sử, trước hết là Lịch sử dân tộc” [7].
Để nâng cao chất lượng bài học lịch sử, tạo được hứng thú cho học sinh, mỗi giáo viên bên cạnh việc khai thác những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa còn phải tìm hiểu, tham khảo thêm kiến thức từ bên ngoài liên quan đến bài học. Một trong số đó chính là hệ thống hóa kiến thức, cung cấp các dạng bài tập khác nhau để học sinh thuần thục, rèn luyện về kĩ năng của bộ môn. Cách này không chỉ làm nổi bật nội dung của bài, mà còn tạo biểu tượng cho học sinh, làm cơ sở cho việc hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức và đạt hiệu quả cao trong các kì kiểm tra, đánh giá.
Cũng như các môn học khác, môn học lịch sử có nhiệm vụ và khả năng góp phần vào việc thể hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ thông nói chung. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học phục vụ cho các kì thi, phục vụ cuộc sống. Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học tập lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo.
Đa phần học sinh cho rằng học lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945 nhằm kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12 THPT ban cơ bản
c nhằm đoàn kết các lực lượng, các giai cấp và tầng lớp trong xã hội cùng đứng vào mặt trận thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đập tan các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. - Góp phần to lớn trong việc xây dựng và phát triển các lực lượng chính trị,vũ trang,căn cứ địa cách mạng,cụ thể: -Thời kì Tiền khởi nghĩa, mặt trận Việt Minh có chức năng như 1 chính quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành Cao trào kháng Nhật cứu nước . - Triệu tập Đại hội quốc dân Tân trào từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945 - Mặt trận Việt Minh cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận tiến lên Tổng khởi nghĩa,giành chính quyền trong cả nước. Kết quả, vào ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chính Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. - Đứng về phe Đồng minh góp phân tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, góp phần bảo vệ hòa bình an ninh thế giới. b. Em có suy nghĩ gì về việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay. - Củng cố khối đại đoàn kết - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. - Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam Câu 14: Chứng minh rằng :"Cách mạng tháng Tám 1945 thành công không phải là sự ăn may mà là kết quả chuẩn bị trong suốt 15 năm của Đảng, nổi bật lên là nghệ thuật chớp thời cơ tài tình" Hướng dẫn trả lời: a. Sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho thắng lợi cách mạng tháng Tám là sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam(3/2/1930) . Đảng ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước,giai cấp lãnh đạo cách mạng, lực lượng cách mạng,phương pháp cách mạng. b. Trong phong trào cách mạng 1930-1931 được coi là cuộc tập dượt lần đầu tiên của Đảng cho tổng khởi nghĩa vũ trang sau này vì c. Phong trào dân tộc dân chủ 1936-1939 được ví như cuộc tập dượt lần hai cho cách mạng tháng Tám vì phong trào này đã sử dụng các hình thức đấu tranh công khai, bán công khai, hợp pháp nửa hợp pháp... d. Đặc biệt trong giai đoạn 1941-1945 Đảng tích cực chuẩn bị mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa vũ trang như: - Chuẩn bị về đường lối cách mạng bằng việc liên tục triệu tập các hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng tháng 11/1939, tháng 5/1941 - Chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng - Chuẩn bị về lực lượng cách mạng: - Tập dượt cho quần chúng đấu tranh qua Cao trào kháng Nhật cứu nước nên quần chúng được tập dượt làm quen với nhiều hình thức đấu tranh phong phú đa dạng. - Chuẩn bị cho bộ máy lãnh đạo tổng khởi nghĩa e. Nổi bật hơn tất cả là nghệ thuật chớp thời cơ tài tình của Đảng và nghệ thuật tác chiến tài tình của Đảng: (tham khảo 9b) Câu 15: Bằng sự kiện lịch sử có chọn lọc từ năm 1941 đến năm 1945, hãy làm sáng tỏ vai trò của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối vói thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hướng dẫn trả lời(8): a. Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang. Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và Đông Dương, Người đã chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5—1941). Hội nghị có những nội dung như(tham khảo câu 1b) b. Sáng lập Mật trận Việt Minh Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941). Chương trình Việt Minh do Người soạn thảo đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, làm cho phong trào Việt Minh ngày càng phát triển sâu rộng. Mặt trận Việt Minh không chỉ có vai trò đoàn kết toàn dân tộc, cô lập kẻ thù đế quốc và tay sai, mà còn là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho Cách mạng tháng Tám. c. Chuẩn bị về, lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa Lực lượng vũ trang có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền toàn quốc. Ngay khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã cùng Trung ương Đảng tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. + Thành lập các Trung đội Cứu quốc quân (1941), Đội tự vệ vũ trang (1941), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944 + Người đã biên soạn các tài liệu về chiến tranh du kích và ra các chỉ thịvề thành lập lực lượng vũ trang. Nhờ sự chỉ đạo đó, toàn Đảng toàn dân đã tích cục chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. + Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến việc xây dựng căn cứ địa cách mạng. Căn cứ Pác Bó (Cao Bằng) được xây dựng từ năm 1941. Trên cơ sở đó, đến tháng 6-1945 phát triển thành khu giải phóng Việt Bắc. Tháng 5-1945, Người cùng Trung ương Đảng chuyển về Tân Trào (Tuyên Quang). d. Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động Tổng khởi nghĩa Cùng với Trung ương Đảng, Người đã dự đoán chính xác thời cơ và kịp thời phát đông Tổng khởi nghĩa. - Sự chỉ đạo của Người đã giúp cho Trung ương Đảng có chủ trương kịp thời và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân đội Đồng minh kéo vào nước ta. Câu 16: Trong giai đoạn 1930-1945 sự kiện lịch sử nào đã mở ra bước ngoặt to lớn của dân tộc Việt Nam? Phân tích ý nghĩa của sự kiện này. Hướng dẫn trả lời: Trong giai đoạn 1930-1945, sự kiện lịch sử mở ra bước ngoặt to lớn của dân tộc Việt Nam là sự kiện cách mạng Tháng Tám thành công. b. Phân tích ý nghĩa của sự kiện này: - Đối với dân tộc Việt Nam : + Cách mạng tháng Tám thành công mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và của Nhật Bản gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị ngót chục thế kỉ ở nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. + Mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc : Kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân lao động nắm chỉnh quyến, làm chủ đất nước... + Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành một Đảng cầm quyền và chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo. Đối với quốc tế; góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai; làm suy yếu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ; cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng ; có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia. Câu 17: Trình bày nhận xét của em về việc xác định kẻ thù cách mạng đã được Đảng cộng sản Đông Dương thực hiện trong thời kì 1930 -1945. Hướng dẫn trả lời: - Giai đoạn 1930- 1931 : + Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1-1930): xác đinh kẻ thù là đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng. + Trong Luận cương chính trị (10-1930): xác định kẻ thù là đế quốc xâm lược và giai cấp bóc lột (địa chủ, tư sản). Luận cương chính trị của Trần Phú, đã xác định chưa đúng kẻ thù của cách mạng Đông Dương lại đặt nặng về đấu tranh giai cấp, ruộng đất mà không giương cao được ngọn cờ độc lập dân tộc. Trong quá trình cách mạng về sau,những hạn chế này đã được Đảng phát hiện và sửa chữa, rút kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Giai đoạn 1936 - 1939: + Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7-1936 đã xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là bọn phản động thuộc địa (lực lượng không chịu thực hiện những chính sách mà Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ban hành ) và tay sai.Có thể thấy, Đảng đã rất sáng suốt trong việc xác định được kẻ thù trước mắt và lâu dài, từ đó đề ra các nhiệm vụ, hình thức đấu tranh sao cho phù hợp với thực tiễn lịch sử, phù hợp với yêu cầu của quần chúng nhân,với nghị quyết của Đại hội VII - Quốc tế cộng sản. Giai đoạn 1939 - 1945: + Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 xác định kẻ thù là đế quốc và tay sai.Việc xác định kẻ thù của cách mạng Đông Dương trong hội nghị hoàn toàn đúng đắn, thể hiện nhãn quan chính trị sắc bén của Đảng, giương cao ngon cờ độc lập dân tộc và tập trung vào kẻ thù chính của dân tộc là thực dân Pháp và tay sai. + Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941) xác định kẻ thù của cách mạng là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai.Như vậy,Đảng đã xác định được kẻ thù chính của dân tộc trong giai đoạn này, từ đó tập trung vào kẻ thù chính của dân tộc, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc,tập trung lực lượng quần chúng đề đấu tranh. + Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945) xác định kẻ thù chính là phát xít Nhật và tay saitừ đó tập trung lực lượng tấn công vào kẻ thù này. Đảng đã xác định đúng kẻ thù của dân tộc dựa trên những chuyển biến của tình hình trong nước. Từ đó góp phần làm nên thắng lợi cách mạng Tháng Tám sau này. Câu 18. Trình bày và nhận xét chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng đuợc đề ra tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930), Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (10-1930) và Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941). Hướng dẫn trả lời: - Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930). Hội nghị đã xác đinh lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư, sản tri thức ; đối vối phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam thì lợi dụng hoặc trung lập.Đó là chủ trương đúng đắn, phù hợp với thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam. - Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời (10-1930) . Hội nghị dã xác đinh động lực cách mạng là công nhân, nông dân. Luận cương đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của giai cấp, tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai nên không xây dựng được khối đại đoàn kết. - Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (5-1941). Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh. Đây là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tức là bao gồm mọi người Việt Nam có lòng yêu nước, thương nòi nhằm huy động lực lượng toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc ; cô lập cao độ bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chứng. Nhờ có chủ trương đúng đắn đó Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng tháng Tám đi đến thành công: [2].[3].[4].[5].[6].[8].[9]. 2.4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường. 2.4.1. Về phía người dạy và nhà trường - Giáo viên được nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn khi nắm rõ ba đặc trưng cơ bản của xu hướng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn lịch sử theo hướng hiện đại. Trong đó, đặc biệt chú ý tới việc phát triển năng lực năng lực của người học. Ưu điểm của sáng kiến là xây dựng hệ thống câu hỏi phần Lịch sử Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực ở mức độ vận dụng bằng fili mềm sẽ có nhiều ứng dụng: giáo viên có thể tham khảo nguồn tư liệu để phục vụ cho việc soạn giáo án, làm đề thi.. tiết kiệm chi phí đánh máy, thời gian và công sức. 2.4.2. Về phía người học - Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học xem đây là yếu tố then chốt và tất cả những yếu tố khác đều tập trung hướng đến giải quyết vấn đề này. - Học sinh được hình thành và rèn luyện nhiều kỹ năng: làm việc nhóm, nghiên cứu khoa học, thuyết trình trước đám đông, giải quyết vấn đề, khẳng định giá trị của bản thân, sử dụng thành thạo CNTT 2.4.3. Kết quả đánh giá học sinh sau dự án: Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã lấy lớp 12A2 làm lớp thực nghiệm và lớp 12A4 là lớp đối chứng với một bài kiểm tra một tiết hệ số câu hỏi như nhau, yêu cầu kĩ năng như nhau đặc biệt bài kiểm tra có yêu cầu mức độ vận dụng kiến thức là 40%. Kết quả tôi thu được như sau: Tên lớp Sĩ số HS Kết quả Giỏi khá Trung bình Yếu 12A2 Thực nghiệm 42 1 15 24 2 12A4 Đối chứng 35 1 10 25 3 * Nhận xét về kết quả kiểm tra: Ở lớp thực nghiệm: các em hào hứng và yêu thích bộ môn, chủ động tiếp cận kiến thức, đặc biệt là phát triển tư duy, đào sâu kiến thức, vận dụng linh hoạt kiến thức, liên hệ tính thực tiễn cao. Ở lớp đối chứng: kết quả kiểm tra thấp hơn chỉ đạt yêu cầu về kiến thức cơ bản, phần nâng cao, vận dung không đạt yêu cầu. Kết quả đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 của trường THPT Tô Hiến Thành do tôi phụ trách năm học 2014-2015 không có học sinh giỏi đạt cấp tỉnh. Năm học 2015-2016 mới chỉ một học sinh đạt giải ba cấp tỉnh, năm học 2016-2017 đã có một giải nhì và một giải khuyến khích . Kết quả trên tuy nhỏ bé nhưng đã động viên khích lệ tôi trong việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm “Xây dựng hệ thống câu hỏi phần lịch sử Việt Nam gia đoạn 1930 đến 1945 nhằm kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12 THPT ban cơ bản” vào thực tế giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông. III. Kết luận, kiến nghị Kết luận: Trong quá trình giảng dạy tôi thấy rằng phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945 là phần quan trọng trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp Tỉnh và kỳ thi THPT Quốc gia. Đây là phần kiến thức rộng và trọng tâm, có nhiều dạng câu hỏi khó mang tính chất phân loại cao, có tác dụng rèn luyện tư duy, phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi và rèn luyện kĩ năng thi THPT quốc gia, góp phần định hướng các dạng câu hỏi vận dụng khi làm đề thi trắc nghiệm khách quan cho kì thi THPT quốc gia hiện nay. Kiến nghị : a. Đối với sở giáo dục : Biên soạn và xuất bản các sáng kiến đạt giải rồi cung cấp cho các trường THPT trong tỉnh để giáo viên có thể áp dụng sáng kiến vào giảng dạy nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục. b. Đối với giáo viên : Cần thường xuyên trao đổi, thảo luận trong tổ nhóm chuyên môn để đúc rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, kiểm tra, đánh giá. Luôn luôn tự học, tự trau dồi kiến thức thông qua các sách tham khảo, các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt qua mạng internet.Thường xuyên nghiên cứu và viết sáng kiến để nâng cao chất lượng giảng dạy Xác nhận của BGH trường THPT Tô Hiến Thành Thanh hóa, ngày 20/5/2017 Tôi xin cam kết đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết không sao chép nội dung của người khác. Người viết Phạm Thị Huyền TÀI LIỆU THAM KHẢO [1].Trương Hữu Quýnh (chủ biên). Đại cuơng lịch sử Việt Nam - Tập II, III – NXB Giáo dục 1998 [2]. Nguyễn Thị Côi (chủ biên). Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử 12 –NXB giáo dục, 2008 [3].Nguyễn Thị Côi (chủ biên). Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn lịch sử lớp 12–NXB Đại học quốc gia,1999 [4]. Vũ Quang Hiển (chủ biên). Ôn tập môn lịch sử chuẩn bị cho kì thiTHPT Quốc gia- NXB giáo dục, 2015 [5]. Nguyễn Tiến Hỷ (chủ biên). Ôn tập lịch sử theo chủ đề. –NXB Đại học quốc gia, 2001. [6]. Lê Văn Lan (chủ biên). Hỏi đáp lịch sử Việt Nam- NXB Trẻ 2008 [7]. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên). Phương pháp dạy học lịch sử -NXB Giáo dục 1998 [8]. Chủ tịch Hồ Chí Minh - tiểu sử và Sự Nghiệp- NXB sự thật 1976 [9].Trịnh Đình Tùng (chủ biên). Hướng dẫn ôn luyện thi THPT quốc gia- NXB Đại học sư phạm, 2016. [10].Trịnh Đình Tùng (chủ biên). Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch Sử 12- NXB ĐH Sư phạm [11]. Phạm Thanh Bình. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở trường phổ thông - yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay, Tạp chí NCGD số 19, trang 10, 2/2005
File đính kèm:
skkn_xay_dung_he_thong_cau_hoi_phan_lich_su_viet_nam_giai_do.docx
bia_sang_kien_kinh_nghiem.doc

